Mở trình đơn chính

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi mà Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra cho mô hình kinh tế hiện tại của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nó được mô tả là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường mà ở đó khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, hướng tới mục tiêu phát triển chủ nghĩa xã hội.[1]

Các hệ thống kinh tế

Kinh tế tư bản chủ nghĩa
Kinh tế xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường
Kinh tế kế hoạch
Kinh tế hỗn hợp
Chủ nghĩa xã hội thị trường
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường xã hội
Kinh tế chuyển đổi
Kinh tế mở
Kinh tế khép kín
Kinh tế tự cung tự cấp
Kinh tế hàng hóa
Kinh tế tiền tệ

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới, thay thế nền kinh tế kế hoạch tập trung bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường mà ở đó kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo. Những thay đổi này giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Cụm từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang hàm ý là Việt Nam chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng cho hệ thống này trong tương lai. Mô hình kinh tế này khá tương đồng với mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (socialist market economy) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó các mô hình kinh tế tập thể, nhà nước, tư nhân cùng tồn tại, và khu vực nhà nước đóng vai trò chủ đạo.[2]

Cho đến nay, chính phủ Việt Nam cũng thừa nhận rằng chưa có nhận thức rõ ràng, cụ thể và đầy đủ về thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.[3][4] Theo chính phủ Việt Nam, nguyên nhân của tình trạng này là do hệ thống kinh tế này hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử.[3][4] Đến hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30 tháng 1 năm 2008 về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày 23 tháng 9 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ra Nghị quyết số 22/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện nghị quyết 21-NQ/TW.

Cơ sở lý luậnSửa đổi

Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Marx cổ điển về phát triển kinh tế và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nơi chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xuất hiện khi điều kiện vật chất đã được phát triển đủ để phát triển các mối quan hệ của chủ nghĩa xã hội. Mô hình thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được coi là một bước quan trọng để đạt được sự tăng trưởng và hiện đại hóa kinh tế cần thiết trong khi có thể cùng tồn tại trong nền kinh tế thị trường toàn cầu và hưởng lợi từ thương mại toàn cầu.[5] Đảng Cộng sản Việt Nam đã tái khẳng định cam kết của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với những cải cách của thời kỳ Đổi Mới.[6]

Mô hình kinh tế này được bảo vệ từ quan điểm của chủ nghĩa Marx, trong đó tuyên bố rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ có thể xuất hiện sau khi phát triển nền tảng chủ nghĩa xã hội thông qua việc thiết lập nền kinh tế thị trường và kinh tế trao đổi hàng hóa, và chủ nghĩa xã hội sẽ chỉ xuất hiện sau khi giai đoạn này hoàn thành vai trò lịch sử của nó và dần tự chuyển hóa thành chủ nghĩa xã hội.[7] Những người ủng hộ mô hình này cho rằng hệ thống kinh tế của Liên Xô và các quốc gia vệ tinh đã cố gắng đi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế kế hoạch bằng các pháp lệnh mà không thông qua giai đoạn cần thiết của phát triển kinh tế thị trường.[8]

Đặc trưngSửa đổi

Theo Nghị quyết 22/2008/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam, hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có các đặc trưng sau:[9]

  • Là một nền kinh tế hỗn hợp, nghĩa là vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước. Các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường được tôn trọng, các mạch máu kinh tế và các ngành trọng yếu (khai mỏ, ngân hàng, quốc phòng,...) được nhà nước quản lý. Các thông lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được vận dụng một cách hợp lý. Nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa.
  • Là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
  • Là nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế thành công.
  • Việc phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động và theo hiệu quả kinh tế, đồng thời theo cả mức đóng góp vốn. Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội. Việc phân bổ các nguồn lực vừa được tiến hành theo hướng nâng cao hiệu quả, vừa theo hướng giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; công bằng xã hội được chú ý trong từng bước, từng chính sách phát triển.
  • Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
  • Các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và nhân dân được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.

Hạn chếSửa đổi

Chủ trương khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được thực hiện trong thực tế bằng việc thành lập hàng loạt các doanh nghiệp nhà nước lớn nắm giữ các ngành kinh tế trọng yếu như sản xuất, khai khoáng, năng lượng, tín dụng,... Trong đó, mặc dù có những doanh nghiệp thành công, rất nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, thua lỗ triền miên, gây tổn thất vô cùng lớn cho nhà nước và xã hội. Điển hình là 12 đại dự án của ngành Công Thương đã để thua lỗ hàng chục nghìn tỷ đồng, mất nhiều năm trời vẫn không thể giải quyết dứt điểm.[10]

Việc quản lý kém hiệu quả các nguồn tài nguyên kinh tế khiến tình trạng tham nhũng xảy ra thường xuyên trong bộ máy quan liêu cồng kềnh dẫn đến đầu tư nhà nước vào nền kinh tế đạt hiệu quả thấp. Chi phí đầu tư công mà Việt Nam phải bỏ ra để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn nhiều quốc gia khác trong khu vực. Hệ số ICOR của Việt Nam trong các năm 2001-2006 là 5,1, nghĩa là cần 5,1 đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp 1,5-2 lần nhiều nước trong khu vực trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Đặc biệt, trong giai đoạn 2006-2010, chỉ số này đã tăng lên 10,52, tức là gấp khoảng 3,5 lần Hàn QuốcĐài Loan giai đoạn 1961-1980, gấp 2,5 lần Thái Lan giai đoạn 1981-1995 và Trung quốc giai đoạn 2001-2006.[11]

Một nghiên cứu của Vụ Tổng hợp kinh tế, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vào tháng 5 năm 2014 đã liệt kê hàng loạt cam kết hội nhập kinh tế quốc tế liên quan đến cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam sau khi ký kết các hiệp định kinh tế như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay Hiệp định Tự do thương mại (FTA) với EU.[3] Chẳng hạn, một số FTA, đặc biệt là TPP mà Việt Nam đàm phán có cam kết về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo hướng yêu cầu tất cả DNNN cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân; Nhà nước không trợ cấp cho DNNN; minh bạch hóa quản lý DNNN. Nội dung cam kết này, theo Bộ Ngoại giao, sẽ đặt ra thách thức về thể chế kinh tế.

  • Thứ nhất, cơ chế “xin - cho” thời gian qua đã thúc đẩy hình thành khu vực hưởng lợi trên lưng người khác (rent-seeking) thu lợi nhờ các đặc quyền hoặc độc quyền kinh doanh. Việc xóa bỏ cơ chế này đang gặp nhiều trở lực do sức chây ỳ lớn của nhiều DNNN và các nhóm lợi ích hưởng lợi từ cơ chế này.
  • Thứ hai, chế độ quản trị của DNNN ở nước ta nhìn chung còn chịu ảnh hưởng nhiều của tàn dư cơ chế quan liêu, chưa quan tâm đến các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế trong quản trị doanh nghiệp; do đó minh bạch hóa quản lý DNNN đặt ra yêu cầu cấp bách về đổi mới căn bản quản trị của DNNN.
  • Thứ ba, việc đặt các DNNN vào môi trường cạnh tranh “sòng phẳng” trong khi sức cạnh tranh còn rất hạn chế, nếu không có các thể chế hỗ trợ không loại trừ khả năng bị thâu tóm chi phối bởi độc quyền tư nhân hoặc độc quyền nước ngoài, nhất là trong những lĩnh vực cần có sự điều tiết của Nhà nước.

Nhận xétSửa đổi

  • International Marxist Tendency cho đăng bài viết của Nguyen Ki mang tựa đề Letter from Vietnam, March 2001. Nội dung bài viết cho rằng về căn bản và thực tiễn, "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" thục chất là nền kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa hoàn toàn 100%, lấy danh nghĩa xã hội chủ nghĩa làm tấm màn che đậy.[12]
  • Về câu hỏi thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam Bùi Quang Vinh trong một buổi nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào cuối năm 2013 đã trả lời rằng, "Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm".[3]
  • Theo luật sư Nguyễn Tiến Lập, "định hướng xã hội chủ nghĩa" là phải bảo đảm sự công bằng tương đối về xã hội và chế độ an sinh xã hội phổ cập đối với người dân.[13] Điều này giống với mục tiêu của nền kinh tế thị trường xã hội của nước Đức và khác với nền kinh tế thị trường tự do của nước Mỹ (ở Mỹ, nhà nước không quản lý tập trung quỹ bảo hiểm xã hội và có tới trên 40 triệu người dân không có bảo hiểm y tế).[13] Tuy nhiên, có những thực tiễn vừa qua lại đi ngược lại, ví dụ như việc tăng phí bệnh viện và phí học đường đang trở thành gánh nặng cho người nghèo. Ông Lập đặt vấn đề: "Câu hỏi tại sao sau hơn hai mươi năm chuyển sang kinh tế thị trường mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn èo uột như vậy và chủ yếu lấy cơ chế xin-cho làm tôn chỉ hành động, không tăng được năng lực cạnh tranh,... phải chăng đã tìm được câu trả lời từ chính sự mập mờ của khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" này?" Hậu quả của việc không xác định mô hình kinh tế và duy trì các mối quan hệ không rõ ràng giữa nhà nước và thị trường sẽ biến các doanh nghiệp thành các chủ thể phụ thuộc ngày càng lớn hơn vào nhà nước.[14]
  • Tại hội thảo "Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015- 2035", ông Bùi Tất Thắng, Viện trưởng Viện chiến lược phát triển, đánh giá rằng: "Quá trình đổi mới tư duy sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong vòng 15 năm vừa qua là hành trình “dò đá qua sông”. Quá trình này rất dò dẫm về lý thuyết, lý luận, nhận thức về mô hình mới vẫn chưa rõ ràng nên gây khó cho việc hoạch định chính sách".[4]

Thăm dò ý kiếnSửa đổi

Theo một khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pew vào năm 2015, 95% số người Việt Nam được hỏi ủng hộ thị trường tự do, trong khi ở Mỹ, có tới 25% số người được hỏi nghi ngờ về tính hiệu quả của thị trường tự do.[15]

Khảo sát thay đổi cảm nhận về Nhà nước và thị trường của người Việt Nam" - CAMS 2014 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy: trong 1.600 phản hồi, có 89% ủng hộ mô hình kinh tế thị trường; 71% ủng hộ sở hữu tư nhân trong khi chỉ có khoảng 4% lựa chọn sở hữu nhà nước, 94% yêu cầu minh bạch trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách tại Việt Nam, 99% ủng hộ chủ trương tư nhân hóa một số dịch vụ công. Nhưng mặt khác, tỷ lệ “ủng hộ song còn quan ngại” việc tư nhân hóa dịch vụ công vẫn còn cao hơn tỷ lệ “hoàn toàn ủng hộ” chủ trương này (57% so với 42%). Đặc biệt, 75% vẫn mong muốn Nhà nước có chính sách can thiệp, bình ổn giá cả do lo ngại sẽ bị ảnh hưởng bởi những khiếm khuyết của thị trường.

Kết quả khảo sát cho thấy một thực tế khá nghịch lý: đa số người Việt Nam vừa ủng hộ kinh tế tư nhân cạnh tranh nhưng lại cũng muốn bàn tay can thiệp của Nhà nước đối với những mặt hàng quan trọng (bình ổn giá, trợ cấp,...) để đảm bảo quyền lợi cho họ, tức là vừa muốn có cạnh tranh tư nhân lại vừa muốn được Nhà nước "ôm ấp". Nguyên nhân là do những bất ổn kinh tế khiến người dân thấy không an toàn. Mặt khác tại Việt Nam, những vấn đề về thiếu minh bạch thông tin, tình trạng không tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, lách luật, móc nối để ép giá người tiêu dùng,... diễn ra phổ biến, khiến ưu điểm của kinh tế thị trường ít được phát huy; trong khi những khiếm khuyết của kinh tế thị trường lại thường xuyên phát sinh. Điều này khiến người dân quay sang trông chờ ở sự trợ giúp của nhà nước.[16][17]

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Karadjis, Michael. "Socialism and the market: China and Vietnam compared". Links International Journal for Socialist Renewal. Retrieved 20 March 2013.
  2. ^ "Socialist-oriented market economy: concept and development". Embassy of the Socialist Republic of Vietnam. Retrieved 20 March 2013.
  3. ^ a ă â b “Cải cách thể chế từ câu hỏi chưa có lời giải”. Thời báo Kinh tế Sài Gòn. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  4. ^ a ă â “Kinh tế Việt Nam: Mất 15 năm chỉ để 'dò đá qua sông'. Báo điện tử VTC News. 29 tháng 8 năm 2015. 
  5. ^ "The awareness of the socialist-oriented market economy in Vietnam". Archived 14 July 2012 at Archive.today
  6. ^ "Firmly holding to the socialist orientation". Archived from the original on 29 September 2011. Retrieved 10 January 2010.
  7. ^ Zhongqiao, Duan. Market Economy and Socialist Road (PDF).
  8. ^ Vuong, Quan-Hoang (2010). Financial Markets in Vietnam's Transition Economy: Facts, Insights, Implications. Saarbrücken, Germany: VDM Verlag. ISBN 978-3-639-23383-4.
  9. ^ Nghị quyết 22/2008/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW.
  10. ^ “Toàn cảnh 12 đại dự án thua lỗ ngàn tỷ của ngành Công Thương”. Tuổi Trẻ Online. 17 tháng 4 năm 2019. 
  11. ^ “Hiệu quả đầu tư của Việt Nam so với các nước”. Đại học Duy Tân. 18 tháng 12 năm 2014. 
  12. ^ Letter from Vietnam to International Marxists. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017.
  13. ^ a ă “Băn khoăn thể chế kinh tế trong dự thảo Hiến pháp”. VnEconomy. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
  14. ^ Băn khoăn thể chế kinh tế trong dự thảo Hiến pháp thuvienphapluat, 23.03.2013
  15. ^ Báo Mỹ: Người Việt ‘chuộng’ thị trường tự do hơn người Mỹ Infonet, 05/05/2015
  16. ^ “Vừa thích thị trường, vừa muốn nhà nước... can thiệp giá”. canhtranhquocgia.vn. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018. 
  17. ^ “Người dân kỳ vọng vào cải cách của Chính phủ”. Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018. 

Liên kết ngoàiSửa đổi