Wikipedia

Lưu Vĩnh Châu (1924 - 2011), là Đại úy Công binh Việt Nam, một trong số ít những chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam người Nam Bộ tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đồng thời, ông cũng là con trai cả của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Hương.[1]

Lưu Vĩnh Châu
Tiểu sử
Biệt danhTrần Văn Dõi
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh26 tháng 1, 1924
Long Châu, Vĩnh Long
Mất4 tháng 4, 2011
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ1945-1961
Cấp bậcVietnam People's Army Captain.jpgĐại úy
Đơn vịTiểu đoàn Công binh 206, Tổng cục Hậu cần
Chỉ huyFlag of the People's Army of Vietnam.svg Binh chủng Công binh
Tham chiếnNam Bộ kháng chiến
Trận Hà Nội
Chiến dịch Điện Biên Phủ
Công việc khácKỹ sư

Thân thếSửa đổi

Lưu Vĩnh Châu tên thật là Trần Văn Dõi, con trai cả của Đốc học Tây Ninh Trần Văn Hương.[2] Năm 1943, ông học hết Trung học Cần Thơ. Năm 1944, ông tham gia Thanh niên Tiền phong.

Binh nghiệpSửa đổi

Khi cha ông từ Đốc học Tây Ninh, trở thành Chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Tây Ninh, con trai lớn của ông là anh Dõi cũng theo hướng hoạt động này. Ông Dõi gia nhập Vệ quốc đoàn (QĐNDVN ở Nam bộ lúc đó) rồi tham gia chỉ huy chiến đấu tại Trâm Vàng, Bến Sỏi, Bến Cầu khi quân Pháp tiến vào Tây Ninh. Giữa năm 1946, đơn vị của ông gần cạn kiệt đạn dược, ông được tổ chức lo giấy tờ ra Bắc nhận vũ khí. Ông được đi cùng chuyến tàu với Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng mới từ Pháp trở về. Ra Hà Nội, việc chuyển vũ khí không thành, vì Hà Nội lúc đó tình hình chính trị cũng rất căng thẳng. Ông được bố trí vào đội tự vệ khu Bạch Mai, tham gia chiến đấu cùng đơn vị tự vệ trong ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946).

Năm 1948, ông được cử đi học Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 4, đổi tên thành Lưu Vĩnh Châu theo họ mẹ. Sau khi bế mạc khóa học ông tiếp tục theo học khóa I công binh. Ngày 10 tháng 7 năm 1949, khi lớp công binh đang xây dựng cầu treo Bờ Rạ, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp khóa công binh, ông về cục công binh công tác.

Tháng 12 năm 1952, ông được bổ nhiệm đại đội trưởng C57 tpm bom, bắn phá, đơn vị C57 được điều biệt phái sang trực thuộc Cục vận tải Tổng cục cung cấp. Năm 1953, do yêu cầu nhiệm vụ vận chuyển vũ khí từ Trung Quốc về nước gặp rất nhiều khó khăn vì quân Pháp thường xuyên ném bom, bắn phá, C57 được biệt phái sang Cục Vận tải Tổng cục Cung cấp. Đơn vị của ông đảm nhiệm phá bom, chữa đường bảo đảm giao thông vận tải vũ khí, lương thực từ biên giới.[3]

Tháng 3 năm 1954, đại đội công binh 57 đang chữa đường ở Chi Lăng-Đồng Mỏ, Lạng Sơn thì được lệnh hành quân cấp tốc đi Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn 206 được giao nhiệm vụ phối hợp với thanh niên xung phong miền Tây Bắc, đảm nhiệm thông đường "huyết mạch" từ đèo Lũng Lô đến Sơn La dài hơn 16 km. Ác liệt nhất là trong đợt ném bom của Pháp vào đêm 23 rạng sáng 24-4-1954, đơn vị của ông bị trúng bom, 12 người hy sinh.[4]

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, máy bay Pháp vẫn tấn công đường cho đến khi Chính phủ Việt Nam ra điều kiện về tù binh. Tổng kết chiến dịch, Tiểu đoàn 206 được cờ thi đua, và được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng Huân chương Quân công hạng 2.

Chuyển ngànhSửa đổi

Sau năm 1954-1955, do tình hình chính trị căng thẳng, Tổng tuyển cử không diễn ra nên ông ở lại miền Bắc, thụ phong quân hàm Đại úy. Năm 1961, ông được đi học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1966, sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Ban Công nghiệp Trung ương.

Vì không về quê được, ông Châu vẫn cố gắng tìm kiếm tung tích người cha Trần Văn Hương, trong khi ở miền Nam ông Hương nhầm tưởng con mình đã chết vì chiến sự. Ông Hương cộng tác với chính quyền VNCH và trở thành Đô trưởng Saigon, nhưng ông vẫn hủy đi những dấu hiệu liên lạc cũ, vì biết con ông là cộng sự Việt Minh (sẽ gặp rắc rối với chính phủ hiện tại có lập trường chống cộng sản quyết liệt). Sau khi phát hiện ra ông Trần Văn Hương đang làm Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ông Lưu Vĩnh Châu được triệu tập tới gặp Bộ trưởng Nội vụ Ung Văn Khiêm, chờ công tác đặc biệt. Sau đó, ông được biệt phái xuống nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo chuyên lo chế tạo động cơ nổ 12 mã lực và cải tiến bơm cao áp con heo dầu.

Sau chiến tranhSửa đổi

Sau khi Chiến tranh kết thúc, ông Trần Văn Hương ở lại Việt Nam. Ông Lưu Vĩnh Châu trở về thành phố Hồ Chí Minh, dọn đến sống cùng cha ở căn nhà trên đường Điện Biên Phủ.[5] Gia đình ông là một trong những trường hợp điển hình mà những người trong gia đình nằm trong cả hai chiến tuyến. Ông mất năm 2011.

Ông Lưu Vĩnh Châu có con gái tên là Trần Ngọc Điệp. Năm 1975, bà Điệp sang Hungary du học, sau đó kết hôn với người bạn học người Hungary và ở lại đó.[6]

Cháu ngoại ông là Sztancsek Trần Szilard Việt, con trai của bà Trần Ngọc Điệp, là một huấn luyện viên từng dẫn dắt đội trẻ Boldklubben af 1893, Lyngby BK. Năm 2018, Szilard đã về Việt Nam theo lời hứa với ông ngoại, hiện đang làm công tác huấn luyện đội đội U-7, U-11 và U-13 ở Juventus Academy Thành phố Hồ Chí Minh.[7]

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi