Mở trình đơn chính

Nhà Tống

Triều đại phong kiến ở Trung Quốc

Nhà Tống (tiếng Trung: 宋朝; bính âm: Sòng Cháo, Wade-Giles: Sung Ch'ao, Hán-Việt: Tống Triều, phát âm tiếng Trung: [sʊ̂ŋ tʂʰɑ̌ʊ̯]) là một triều đại cai trị ở Trung Quốc từ năm 960 đến 1279, họ đã thành công trong việc thống nhất Trung Quốc trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, và được thay thế bởi nhà Nguyên. Nhà Tống là nhà nước đầu tiên trên thế giới phát hành ra tiền giấy, và nhà nước Trung Quốc đầu tiên đã thành lập nên lực lượng hải quân thường trực lâu dài. Triều đại này đã chứng kiến việc lần đầu tiên sử dụng thuốc súng, cũng như nhận thức về cách sử dụng la bàn.

Đại Tống

960–1279
A map showing the territory of the Song, Liao, and Xia dynasties. The Song dynasty occupies the east half of what constitutes the territory of the modern People's Republic of China, except for the northernmost areas (modern Inner Mongolia province and above). The Xia occupy a small strip of land surrounding a river in what is now Inner Mongolia, and the Liao occupy a large section of what is today northeast China.
Bắc Tống năm 1111
Địa vịĐế quốc
Thủ đôBiện Kinh (汴京)
(960–1127)

Lâm An (臨安)
(1127–1276)
Ngôn ngữTiếng Trung
Tôn giáo
Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo
Chính quyềnQuân chủ
Hoàng Đế 
• 960–976
Thái Tổ
• 976–997
Thái Tông
• 1022-1063
Nhân Tông
• 1067-1085
Thần Tông
• 1100-1126 (Biến cố Tĩnh Khang, Bắc Tống diệt vong)
Huy Tông
• 1127–1162
Cao Tông
• 1278–1279 (Nam Tống diệt vong)
Đế Bính
Thừa tướng 
• –
Sái Kinh,
• –
Phạm Trọng Yêm,
• 
Hàn Thác Trụ,
• –
Lý Phưởng, Tần Cối, Tư Mã Quang, Đồng Quán, Vương An Thạch, Văn Thiên Tường
Lịch sử 
• Triệu Khuông Dẫn lên ngai vàng nhà Hậu Chu
960
• Sự kiện Tĩnh Khang, Bắc Tống diệt vong
1127
• Lâm An thất thủ
1276
• Trận Nhai Môn, Nam Tống diệt vong
1279
Diện tích
9621.050.000 km2 (410.000 sq mi)
11112.800.000 km2 (1.100.000 sq mi)
1142.2.000.000 km2 (770.000 sq mi)
Dân số
• 1120
118,800,000a[›]
Tiền tệGiao tử, Cối Tử, Tiền xu
Tiền thân
Kế tục
Ngũ Đại Thập Quốc
Nhà Nguyên
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Văn hóa Từ Sơn (~8.000 - 5.500 TCN)
Văn hóa Bùi Lý Cương (~7.000 - 5.000 TCN)
Văn hóa Lão Quan Đài (~5.800 - 5.000 TCN)
Văn hóa Hậu Lý (~6.500 - 5.500 TCN)
Văn hóa Bắc Tân (~5.300 - 4.100 TCN)
Văn hóa Ngưỡng Thiều (~5.000 - 3.000 TCN)
Văn hóa Hà Mỗ Độ (~5.000 - 4.500 TCN)
Văn hóa Mã Gia Banh (~5.000 - 3.000 TCN)
Văn hóa Đại Vấn Khẩu (~4.100 - 2.600 TCN)
Văn hóa Mã Gia Diêu (~3.300 - 2.100 TCN)
Văn hóa Long Sơn (~3.000 - 2.000 TCN)
Văn hóa Bảo Đôn (~2.500 - 1.750 TCN)
Tam Hoàng Ngũ Đế
VƯƠNG QUỐC
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
   Văn hóa Nhị Lý Đầu 1.900-1.500 TCN
   Văn hóa Tam Tinh Đôi 2.000-1.400 TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
   Văn hóa Nhị Lý Cương 1.500-1.300 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
   Nước Cổ Thục ~1.300-316 TCN
   Các bộ tộc Bách Việt~1.000-200 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
  Đông Tấn 317–420
Thập Lục Quốc
304–439
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Đế quốc Trung Hoa (1915-1916)
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay

Triều nhà Tống được chia thành hai giai đoạn riêng biệt: Bắc Tống và Nam Tống.

  • Bắc Tống (北宋, 960-1127) là giai đoạn khi thủ đô của họ ở thành phố Biện Kinh (nay là Khai Phong) ở miền bắc và triều đình kiểm soát toàn bộ Trung Hoa.
  • Nam Tống (南宋, 1127-1279) để chỉ khoảng thời gian khi nhà Tống đã mất quyền kiểm soát phía bắc cho người Nữ Chân nhà Kim, trong thời gian này triều đình nhà Tống lui về phía nam sông Dương Tử và lập kinh đô ở Lâm An (nay là Hàng Châu).

Mặc dù nhà Tống đã mất quyền cai quản khu vực nền móng của nền nông nghiệp Trung Hoa quanh dòng sông Hoàng Hà, nhưng nền kinh tế nhà Tống không nằm trong đống đổ nát, dân số nhà Nam Tống chiếm gần 60% toàn bộ dân số Trung Hoa thời bấy giờ và nền nông nghiệp cũng trở nên hiệu quả nhất.[1] Triều Nam Tống dành sự ủng hộ đáng kể cho nền hải quân, tạo nên sức mạnh bảo vệ vùng biển và biên giới đất liền cũng như tiến hành những nhiệm vụ hàng hải ra nước ngoài.

Để đẩy lùi những cuộc xâm lược của người Nữ Chân và sau đó là người Mông Cổ, nhà Tống đã phát triển quân đội tăng cường sử dụng thuốc súng. Nhà Kim bị người Mông Cổ chinh phục năm 1234, sau đó Mông Cổ kiểm soát toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra, khi Hốt Tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Ca (còn gọi là Mông Kha), vua cai trị Mông Cổ. Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ và được tôn lên làm Đại Hãn, mặc dù chỉ được công nhận bởi một số người Mông Cổ ở phía Tây. Năm 1271, Hốt Tất Liệt tự xưng là hoàng đế Trung Hoa.[2] Sau hai thập kỷ chiến tranh lẻ tẻ, quân đội Hốt Tất Liệt đã chinh phục nhà Tống năm 1279. Một lần nữa Trung Quốc được thống nhất, dưới triều đại nhà Nguyên Mông (1271-1368).[3]

Dân số Trung Quốc tăng gấp đôi trong thế kỷ X và XI. Sự tăng trưởng này đã thông qua bằng việc mở rộng canh tác lúa ở miền trung và miền nam Trung Quốc, việc sử dụng lúa chín sớm từ phía Đông Nam và Nam Á, và sản xuất thặng dư lương thực dồi dào.[4][5] Dưới triều Bắc Tống đã thực hiện một cuộc điều tra dân số và kết quả là 50 triệu người, giống như thời nhà Hán và nhà Đường. Con số này được kiểm chứng trong Tống sử. Tuy nhiên, người ta đã ước tính rằng thời kỳ Bắc Tống đã có hơn 100 triệu người, vào thời kỳ đầu nhà Minh đã có hơn 200 triệu người.[6]

Lịch sử Bắc TốngSửa đổi

Binh biến Trần KiềuSửa đổi

Quân chủ khai quốc của triều Tống là Triệu Khuông Dẫn, Triệu Khuông Dẫn nguyên là "Điện tiền đô điểm kiểm" (tức thống lĩnh cấm quân) của triều Hậu Chu, do có chiến công xuất chúng nên được Hậu Chu Thế Tông tín nhiệm, trở thành thân tín của hoàng đế. Năm Hiển Đức thứ 6 (959), Hậu Chu Thế Tông băng hà, Cung Đế kế vị khi còn nhỏ, Triệu Khuông Dẫn trong lòng có ý muốn thay thế. Tết năm Hiển Đức thứ 7 (960), bè đảng của Triệu Khuông Dẫn tạo tin tình báo giả rằng quân Liêu nam hạ, tể tướng Phạm Chất liền lệnh Triệu Khuông Dẫn xuất quân khỏi kinh thành chống địch. Ngày ba tháng giêng, Triệu Khuông Dẫn đến đóng tại Trần Kiều dịch, tối hôm đó khi Triệu Khuông Dẫn đang ngủ say thì bị tướng sĩ dưới quyền khoác hoàng bào lên người (tức "Hoàng bào gia thân"), hô to "vạn tuế", được lập làm Thiên tử, tức Tống Thái Tổ. Triều thần Hậu Chu khi biết tin thì trong thành đã rỗng không, chỉ có thể thừa nhận hiện thực. Hậu Chu Cung Đế bị buộc phải tốn vị.[tham 1] Triệu Khuông Dẫn từng giữ chức Quy Đức tiết độ sứ, trú tại Tống châu, trong thời kỳ Xuân Thu thì Tống châu là lãnh địa của nước Tống, do vậy định quốc hiệu là "Tống",[tham 2] định đô tại Khai Phong, cải nguyên Kiến Long.

Năm Kiến Long thứ nhất, Tống Thái Tổ bình định hai cuộc nổi loạn của Lý QuânLý Trọng Tiến. Nghe theo ý kiến của Triệu Phổ, Tống Thái Tổ hai lần tiến hành "bôi tửu thích binh quyền" vào tháng 7 năm Kiến Long thứ 2 (961) và tháng 10 năm Khai Bảo thứ 2 (969), tước đoạt quyền chỉ huy quân sự của các tướng quân nắm giữ trọng binh: Thạch Thủ Tín, Vương Thẩm Cơ, Cao Hoài Đức, La Ngạn Côi và các võ tướng địa phương, giao cho hư chức, chuyển sang dùng quan văn trị quân đội, đồng thời đem toàn bộ đại quyền quân sự và tài chính tập trung vào trung ương. Lưỡng Tống do vậy tránh được cục diện phiên trấn cát cứ như thời Đường. Tuy nhiên, quốc sách này khiến năng lực quân sự địa phương giảm thiểu, khiến triều Tống cuối cùng ở thế yếu trong chiến tranh với bên ngoài[tham 3].

Thu phục Trung NguyênSửa đổi

 
Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa.

Sau khi ổn định vững chắc chính quyền, Tống Thái Tổ bắt đầu diệt trừ tàn dư cát cứ Ngũ Đại Thập Quốc, thống nhất thiên hạ. Sau khi thương thảo với Triệu Phổ, Tống Thái Tổ quyết định tuân theo sách lược 'tiên nam hậu bắc', ban đầu chiếm lấy sáu nước phương nam có kinh tế thịnh vượng để củng cố quốc lực, sau đó chuyển sang Bắc phạt Bắc Hán nguyên được Khiết Đan hỗ trợ. Trước tiên Tống Thái Tổ dùng kế "giả Ngu diệt Quắc" để công diệt Kinh Nam và chính quyền cát cứ Hồ Nam, sau đó lại tiêu diệt ba nước Hậu Thục, Nam Hán, Nam Đường. Tống Thái Tổ một lòng hy vọng khôi phục lãnh thổ phương bắc như thời Đường, thiết lập 'phong thung khố' để trữ tiền tài vải vóc, nhằm sau này chuộc lại Yên Vân thập lục châu bị Thạch Kính Đường trao cho Khiết Đan khi xưa. Tháng tám năm Khai Bảo thứ 9 (976), Tống Thái Tổ một lần nữa tiến hành Bắc phạt, song đến ngày mười chín tháng mười cùng năm thì đột nhiên từ trần. sự nghiệp thống nhất Trung Nguyên tạm thời bị đình chỉ. Em trai Tống Thái Tổ là Triệu Quang Nghĩa kế vị, tức là Tống Thái Tông.[tham 4]

Sau khi ổn định vững chắc đế vị, Tống Thái Tông kế tục sự nghiệp thống nhất. Sau đó, chính quyền cát cứ Thanh Nguyên quân tại miền nam Phúc Kiến, cùng nước Ngô Việt lần lượt quy hàng. Tống Thái Tông khiển đại tướng Phan Mỹ đem quân về phía bắc công kích đô thành Thái Nguyên của Bắc Hán, đánh lui viện binh Liêu, tiêu diệt Bắc Hán, kết thúc cục diện phiên trấn cát cứ kéo dài gần hai trăm năm.[tham 5]

Tháng năm năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 (979), Tống Thái Tông bất chấp phản đối của triều thần, thừa thế chiếm được Bắc Hán, từ Thái Nguyên xuất phát triển khai Bắc phạt. Ban đầu, quân Tống từng thu phục được Dịch châuTrác châu tại Hà Bắc. Tống Thái Tông đắc ý, hạ lệnh vây đánh Yên Kinh, quân Tống cùng quân Liêu triển khai kích chiến bên bờ sông Cao Lương[tham 6] Tống Thái Tông ra chiến trường, kiến quả trúng tên bị thương, buộc phải triệt thoái, Bắc phạt không đạt. Bảy năm sau, tức năm Ung Hy thứ 3 (986), Tống Thái Tông khiển năm vị đại tướng là Phan Mỹ, Dương Nghiệp, Điền Trọng Tiến, Tào Bân, Thôi Ngạn phân quân theo ba lộ đông trung tây, lấy đông lộ là chính để tiến hành Bắc phạt. Quân tây lộ và trung lộ tiên quân thuận lợi, song quân Đông lộ chủ lực nhiều lần chiến bại trước quân Liêu, đường tiếp lương bị cắt đứt, cuối cùng không thể tụ hợp với hai lộ trung tây, đại bại tại Kỳ Câu quan mà tan vỡ. Hai lộ trung và tây cũng chỉ có thể rút về nam. Sau đó, triều Tống nhiều lần thất bại trước người Đảng Hạng trong các chiến dịch Tam Xuyên Khẩu, Hảo Thủy Xuyên, Định Xuyên Trại, song do người Đảng Hạng chán chiến tranh nên nghị hòa với Tống. Tháng hai năm Thuần Hóa thứ 4 (993), tại Tứ Xuyên bùng phát khởi nghĩa nông dân dưới quyền Vương Tiểu Ba và Lý Tuân. Quân khởi nghĩa được nông dân ủng hộ, đến tháng 1 năm sau thì chiếm cứ Thành Đô, kiến lập chính quyền Đại Thục. Thái Tông khiển hai lộ đại quân đi thảo phạt, quân khởi nghĩa cuối cùng thất bại triệt để vào năm Chí Đại thứ 2 (996). Nhiều lần thất bại tại phòng tuyến biên thùy, cộng với bùng phát khởi nghĩa tại hậu phương cản trở Bắc Tống thu phục cương thổ, song chính sách của Tống Thái Tông vẫn không đổi là 'trọng nội hư ngoại'.[tham 5]

Bản thân Tống Thái Tông là người phong nhã, yêu thích thơ phú, chính phủ do vậy đặc biệt trọng thị sự nghiệp văn hóa, truyền thống trọng giáo của triều Tống do vậy được khởi đầu. Tống Thái Tông yêu thích thư pháp, giỏi sáu kiểu chữ thảo, lệ, hành, triện, bát phân, phi bạch, đặc biệt giỏi viết kiểu phi bạch, đồng tiền Thuần hóa nguyên bảo của triều Tống là do Tống Thái Tông tự thân đề tả[tham 7]

Sự kiện Tống Thái Tông tức vị hết sức kỳ lạ, là do sự kiện "Chúc ảnh phủ thanh", triều dã tương truyền Quang Nghĩa mưu sát Thái Tổ để đoạt vị, nhằm đảm bảo tính hợp pháp của chính quyền, Tống Thái Tông vứt bỏ lời di mệnh của mẹ là Đỗ thái hậu, tức "Kim quỹ chi minh". "Kim quỹ chi minh" khởi nguyên là lúc Đỗ thái hậu lâm chung có triệu Triệu Phổ nhập cung ghi lại di mệnh, muốn Tống Thái Tổ trước tiên truyền vị cho Quang Nghĩa, sau truyền lại cho Quang Mỹ (sau đổi tên thành Đình Mỹ), rồi truyền cho Đức Chiêu (trưởng tử của Tống Thái Tổ), và Thái Tổ đồng ý. Bức di thư này được cất trong hộp bằng vàng, do vật mà gọi là "Kim quỹ chi minh". Tuy nhiên, Tống Thái Tông liền trước sau bức tử hoàng tử của Thái Tổ là Đức Chiêu và Đức Phương, còn biếm truất Đình Mỹ đến Phòng châu, hai năm sau Đình Mỹ từ trần. Trưởng tử của Tống Thái Tông là Nguyên Tá do đồng tình với Đình Mỹ nên bị phế, hoàng tử Nguyên Hy đột ngột từ trần, cuối cùng một hoàng tử khác là Nguyên Khản được lập làm thái tử, đổi tên là Hằng[tham 8] Năm Chí Đạo thứ 3 (997), Tống Thái Tông băng hà, Lý hoàng hậu và đám hoạn quan Vương Kế Ân trù tính lập Nguyên Tá làm hoàng đế. Đương thời, tể tướng Lã Đoan xử trí thích đáng, Triệu Hằng thuận lợi kế vị, miếu hiệu là Chân Tông. Triều Tống bắt đầu bước vào thời kỳ yên ổn bảo tồn thành quả[tham 9].

Bắc Ngự Liêu HạSửa đổi

Tống Chân Tông kế tục "Hoàng Lão chính trị, Vô sở tác vi" vào cuối thời Tống Thái Tông. Từ sau Bắc phạt thời niên hiệu Ung Hy, triều Liêu thường tấn công khu vực giao giới Tống-Liêu, đến năm Cảnh Đức thứ 1 (1004) cuối cùng diễn biến thành chiến tranh xâm chiếm đại quy mô.[tham 10] Tể tướng Khấu Chuẩn cực lực chủ trương kháng chiến, kết quả Tống Chân Tông thân chinh, sĩ khí quân Tống phấn chấn cao độ, giao chiến ác liệt với quân Liêu dưới thành Thiền châu, quân Liêu cầu hòa. Trải qua nhiều lần giao thiệp, hai triều đại nghị hòa thành công. Nội dung chủ yếu của hòa ước là: Mỗi năm Tống trao cho Liêu 20 vạn xấp lụa, mười vạn lượng bạc, hai bên là quốc gia huynh đệ, sử gọi hòa ước này là "Thiền Uyên chi minh". Qua các thời đại, quan điểm phê bình hòa ước là chủ đạo, nhận định mục đích chiến lược là thu hồi Yên Vân thập lục châu chưa đạt được, bên thắng lợi quân sự hàng năm phải dùng một lượng của cải lớn để đổi lấy hòa bình, là điều sỉ nhục. Những quan điểm đồng tình thì nhận định bản thân việc đánh lui quân Liêu nam xâm đã là thắng lợi, thời Tống kinh thế phát đạt, gánh nặng theo hòa ước không quá lớn, khó có thể nói là điều ước ép buộc.[tham 11].

Sau đó, Khẩu Chuẩn dần dần thất sủng, cuối cùng bị bãi chức tể tướng. Tống Chân Tông bắt đầu tin dùng nịnh thần Vương Khâm Nhược. Vương Khâm Nhược thường đón trước ý của Tống Chân Tông, biết rõ Tống Chân Tông hy vọng thiên hạ xuất hiện một cảnh tượng cát tường an lạc, do vậy cùng tể tướng Vương Đán liên thủ, chế tạo tượng "tường thụy" tại các địa phương, cực lực cổ xúy Tống Chân Tông phong thiền, rất trúng ý Chân Tông. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 1 (1008), Tống Chân Tông lần lượt ba lần phong thiền trong một năm, làm tổn hạo nghiêm trọng dân lực[tham 12] Tống Chân Tông và Lưu hoàng hậu không có hoàng tử, Tống Chân Tông tình cờ một lần lâm hạnh thị nữ Lý thị của Lưu hoàng hậu, kết quả Lý thị vào năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (1010) sinh được một con trai tên là Triệu Thụ Ích. Sau đó, Lưu hoàng hậu và Dương Thục phi cùng nuôi dưỡng hài tử này. Trung thu năm Thiên Hi thứ 2 (1018), Tống Chân Tông chính thức phong Triệu Thụ Ích là Thái tử, đổi tên thành Triệu Trinh. Năm Càn Hưng thứ 1 (1022), Tống Chân Tông băng hà. Thái tử Triệu Trinh kế vị, Lưu hoàng hậu được tôn là Hoàng thái hậu và tạm thời quản lý đại sự quốc gia cho đến khi Tống Nhân Tông Triệu Trinh thành niên. Từ đây bắt đầu thời đại 11 năm Lưu Thái hậu "thùy liêm thính chính" (buông rèm nghe quốc sự).[tham 13] Giai đoạn đầu chấp chính, Tống Nhân Tông vẫn nằm dưới bóng của Lưu thị, đến khi Lưu thị từ trần thì Tống Nhân Tông mới thi hành lý tưởng của mình[tham 14].

Lý Nguyên Hạo xưng đế vào năm Đại Khánh thứ 3 (1038), lập quốc Tây Hạ, sau đó giữa Tống và Hạ bùng phát chiến tranh liên tục nhiều năm, quân Tống nhiều lần chiến bại. Chiến tranh Tống-Hạ chủ yếu trải qua năm thời kỳ, tức thời kỳ Tống Nhân Tông-Hạ Cảnh Tông, thời kỳ Tống Anh Tông-Hạ Nghị Tông, thời kỳ Tống Thần Tông-Hạ Huệ Tông, thời kỳ Tống Triết Tông-Hạ Sùng Tông, thời kỳ Tống Huy Tông-Hạ Sùng Tông. Việc quân Tống bất lợi trong chiến tranh Tống-Hạ khiến triều Liêu thừa cơ tăng áp lực, dẫn đến phát sinh "Trọng Hy tăng tệ".[tham 15] Sau khi gặp bất lợi trong chiến tranh với Tây Hạ, Tống Nhân Tông bãi miễn tể tướng Lã Di Giản, nhiệm dụng các danh thần Phạm Trọng Yêm, Phú Bật, Hàn Kì thi hành "Khánh Lịch tân chính", thu được hiệu quả tốt; nhiệm dụng Bao Chửng quản lý kinh thành và ngự sử đài. Trên biên cương, triều Tống bình định cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao ở phía nam và sự khiêu khích gây hấn của Tây Hạ. Bắc Tống tiến vào giai đoạn phồn vinh nhất kể từ khi lập quốc. Tuy nhiên, một vài nhân vật thuộc phái thủ cựu gọi những quan lại thuộc phái cải cách kéo bè kết cánh, bợ đỡ lẫn nhau, là bằng đảng. Tống Nhân Tông vẫn luôn chán ghét triều thần kết đảng mưu cầu tư lợi, những quan viên tân chính sau này có nhiều người bị biếm làm quan địa phương, "Khánh Lịch tân chính" ngắn ngủi đến đây kết thúc[tham 16].

Sau khi Tống Nhân Tông từ trần vào đầu năm 1063, Triệu Thự kế vị, tức Tống Anh Tông. Anh Tông là cháu nội của Thương vương Triệu Nguyên Phần-em trai Tống Chân Tông. Năm Gia Hựu thứ 7 (1062), Triệu Thự được lập làm hoàng thái tử. Tống Anh Tông nhiều bệnh tật, triều chính ban đầu do Tào thái hậu quản lý, từ tháng 5 năm Trị Bình thứ 1 (1064) thì Tống Anh Tông mới bắt đầu thân chính. Anh Tông thân chính gần nửa tháng thì lại bùng phát "Bộc nghị", tranh luận đến 18 tháng. Sự kiện là do tể tướng Hàn Kỳ đề thỉnh thảo luận vấn đề danh phận của sinh phụ của Tống Anh Tông, trong triều do vậy phân thành hai phái, một phái nhận định cần phải gọi sinh phụ của Tống Anh Tông là "hoàng bá", phái kia nhận định nên gọi là "hoàng khảo". Cuối cùng, Tào thái hậu hạ chỉ gọi là "hoàng khảo" mới làm ngưng được tranh luận này. Về tổng thể, Tống Anh Tông là một vị quân chủ có thành tích, ông kế tục nhiệm dụng triều thần có năng lực của tiền triều, cũng mạnh dạn tìm kiếm người mới. Tống Anh Tống hết sức trọng thị biên soạn thư tịch, "Tư trị thông giám" cũng là do Tống Anh Tông phát động[tham 17]

Biến pháp và Đảng tranhSửa đổi

Sau khi Tống Anh Tông mất vào năm 1067, trưởng tử là Triệu Húc kế vị, tức Tống Thần Tông. Trong thời gian Tống Thần Tông tại vị, chế độ được chế định vào đầu thời Tống đã sản sinh nhiều tệ nạn, dân sinh xuất hiện thụt lùi, còn có nguy cơ từ Liêu và Tây Hạ. Do vậy, Tống Thần Tông kiên định ý chí cải cách. Tống Thần Tông bắt đầu sử dụng đại thần trứ danh thuộc phái cải cách là Vương An Thạch thi hành tân pháp, bổ nhiệm làm 'tham tri chính sự'. Tân pháp mà Vương An Thạch thi hành bao gồm "quân thâu", "thanh miêu", "miễn dịch", "thị dịch", "bảo giáp", "bảo mã", "phương điền quân thuế".. Tuy nhiên, việc thực hành tân pháp gặp phải trở ngại mãnh liệt của phái bảo thủ do Tư Mã Quang lãnh đạo. Cộng thêm thiên tai không ngừng, quyết tâm thực hành tân pháp của Tống Thần Tông có dao động[tham 18] Năm Hi Ninh thứ 7 (1074), phương bắc gặp hạn hán nghiêm trọng, quan viên Trịnh Hiệp trình lên Tống Thần Tông một tranh về lưu dân, cảnh tượng trong tranh rất bi thương, Tống Thần Tông bị tác động mạnh về tâm lý. Ngày hôm sau, Tống Thần Tông liền hạ lệnh bãi 18 khoản trong tân pháp như "thanh miêu", "phương điền", "miễn dịch". Mặc dù những pháp lệnh này được khôi phục không lâu sau đó, song giữa Tống Thần Tông và Vương An Thành bắt đầu không tín nhiệm nhau. Tháng tư năm Hi Ninh thứ 7, Vương An Thạch lần đầu tiên bị bãi chức tể tướng, đi cai quản Giang Ninh phủ. Sau đó, quan viên trong phái biến pháp là Lã Huệ Khanh tự ý làm bậy, Vương An Thạch do vậy được phục chức hồi kinh, song vẫn gặp trở ngại mãnh liệt từ phái bảo thủ. Tháng sáu năm Hi Ninh thứ 9 (1076), trưởng tử của Vương An Thạch từ trần, Vương An Thạch nhân việc này kiên quyết cầu thoái, Tống Thần Tông vào tháng mười lại bãi chức vị tể tướng của ông, về sau Vương An Thạch không luận chính sự[tham 19]

Hậu nhân có nhìn nhận khác nhau nhiều về "Hi Ninh tân pháp", song dù sao hiệu quả của việc thi hành tân pháp không như kỳ vọng. Mặc dù việc thi hành tân pháp làm tăng đáng kể thu nhập tài chính quốc gia và diện tích canh tác, song lại gia tăng nghiêm trọng gánh nặng của bình dân. Trên phương diện quân sự, cải cách của Hi Ninh tân pháp dừng tại giải quyết phần ngọn, lực chiến đấu của quân đội không được cải thiện rõ ràng. Cộng thêm quan niệm của Vương An Thạch mới lạ, cần thời gian rất dài mới có thể thi hành toàn diện hơn 10 hạng mục cải cách, khiến biến pháp rơi vào khốn cảnh muốn đẩy nhanh song không đạt[tham 20] Thời kỳ sau thi hành tân pháp, độ lệch giữa pháp lệnh và chấp hành ngày càng lớn, một số biện pháp từ làm lợi cho dân biến thành nhiễu dân. Trong quá trình chấp hành tân pháp, việc dùng người không thích hợp còn là nguyên nhân sau cùng làm mất lòng dân, thành viên phái biến pháp như Lã Khanh, Tăng Bố, Lý Định và Sái Kinh đều là người có phẩm cách và cá tính chịu nhiều tranh nghị, bị cho là tiểu nhân. Hoàng Nhân Vũ (1918-2000) từng bình luận về cải cách này: "Trước thời chúng ta chín trăm năm, Trung Quốc đã có trù tính sử dụng biện pháp quản chế tài chính nhằm thao túng quốc sự, phạm vi và bề sâu chưa từng được đề xuất tại các khu vực khác trên thế giới."[tham 21]

Sau khi Vương An Thạch bị bãi chức, Tống Thần Tông kế tục sự nghiệp cải cách, hiệu là "Nguyên Phong cải chế". "Nguyên Phong cải chế" dù cùng với "Hi Ninh biến pháp" được gọi chung là "Hi Phong tân pháp", song cường độ thì không sánh được với "Hi Ninh biến pháp". Sau cải chế, quốc lực dần mạnh lên, Tống Thần Tông đưa trọng điểm chuyển dịch sang đối ngoại, quyết tâm tiêu diệt Tây Hạ. Tháng năm năm Hi Ninh thứ 5 (1072), Tống Thần Tông bắt đầu tây chinh, giành được đại thắng, lòng tin của Thần Tông được cổ vũ rất nhiều. Chín năm sau, vào tháng 4 năm Nguyên Phong thứ 4 (1081), Tây Hạ phát sinh chính biến, Tống Thần Tông nhân cơ hội này tiến hành tái chinh phạt Tây Hạ, không ngờ lại thảm bại, Tống Thần Tông do vậy mắc bệnh không khỏi được. Tháng một năm Nguyên Phong thứ 8 (1085), Tống Thần Tông lập lục tử Triệu Dung (sau đổi thành Hú) làm thái tử. Mặc dù tân pháp do Tống Thần Tông ban bố tạm thời bị mẫu hậu là Cao thái hậu phế, song không lâu sau lại dần dần được khôi phục, trong đó không ít biện pháp vẫn duy trì đến thời kỳ Nam Tống[tham 22] Sau khi Tống Thần Tông băng hà, Cao thái hậu "thùy liêm thính chính", kiềm chế nghiêm khắc Tống Triết Tông Triệu Hú mới kế vị. Cao thái hậu tin dùng phái bảo thủ do Tư Mã Quang lãnh đạo, thờ ơ với Tống Triết Tông, kết quả dẫn đến phát sinh đối kháng nghiêm trọng giữa hai phe tân và cựu, đó là "Nguyên Hựu đảng tranh". Sau khi Tống Triết Tông thân chính, ông giáng chức thành viên cựu đảng, tin dùng tân đảng, sự nghiệp biến pháp do vậy có thể kế tục[tham 23].

Từ năm 1075-1077 đã xảy ra chiến tranh giữa nhà Tống với vương quốc Đại Việt của nhà Lý. Giai đoạn đầu, tướng nhà Lý là Lý Thường Kiệt đã chủ động đánh sang đất Tống trong chiến dịch 1075-1076. Trong cả ba trận đánh với quân Lý trên lãnh thổ Trung Quốc tại Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu, quân Tống đều đại bại (Lý Thường Kiệt còn ra lệnh tàn sát hơn 5 vạn dân trong thành Ung Châu). Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, quân Lý rút về phòng thủ chống lại cuộc nam tiến của đại quân Tống trong năm 1076-1077 và cuối cùng đẩy lui được quân Tống ra khỏi lãnh thổ Đại Việt.

Sự biến Tĩnh KhangSửa đổi

Bài chi tiết: Sự biến Tĩnh Khang
 
Tống Huy Tông là một nhà nghệ thuật tài hoa, song cũng là quân chủ vong quốc.

Tống Triết Tông không có con trai kế tập, sau khi từ trần vào năm 1100 thì em là Triệu Cát kế vị, tức là Tống Huy Tông. Tống Huy Tông từ nhỏ đã yêu thích những việc bút mực, hội họa, cưỡi ngựa, thích hưởng lạc, không hứng thú với triều chính. Tống Huy Tông sinh hoạt xa xỉ mê say, ưa vào thanh lâu, tin lời đạo sĩ mà cho xây nhiều công trình kiến trúc, tại góc đông bắc của Khai Phong cho tạo Vạn Tuế Sơn, sau đổi thành Cấn Nhạc, chu vi hơn mười dặm, trong đó có Phù Dung trì, Từ khê, đình đài lầu các, có đủ loại chim thú. Tại khu vực Tô-Hàng của Lưỡng Chiết lộ, Tống Huy Tông cho lập Ứng phụng cục và Tạo tác cục, chuyên sưu tập kỳ hoa dị thạch tại phương nam, thổi bùng sự phẫn nộ của dân chúng, gây nên dân biến.[tham 24] Năm Trọng Hòa thứ 1 (1118), Hoàng Hà gây lụt, bốn lộ Hà Bắc, Kinh Đông chịu thủy tai, lưu dân mất nhà cửa, không thể mưu sinh, tại Hoài Nam Tống Giang phát động dân biến, quân khởi nghĩa từng chiếm cứ một số huyện Kinh Đông, Hoài Nam, Hà Bắc. Hai năm sau, tức năm Tuyên Hòa thứ 2 (1120), 36 thủ lĩnh khởi nghĩa bao gồm Tống Giang tiếp nhận chiêu an của triều đình, khởi nghĩa kết thúc. Ngày chín tháng mười cùng năm (1 tháng 11), Phương Lạp khởi nghĩa tại Thanh Khê (nay thuộc tây bắc Thuần An, Chiết Giang), nông dân các địa phương nghe tin thì hưởng ứng, không lâu sau phát triển đến vạn người. Tháng một năm sau, Tống Huy Tông phái Đồng Quán nam hạ chinh thảo, nhiều lần đánh bại nghĩa quân, cuối cùng bắt sống Phương Lạp trong tháng bảy.[tham 25]

Tống Huy Tông ít quản triều chính, chính vụ đều giao cho nhóm triều thần mà đứng đầu là Sái Kinh, họ bị gọi là "Lục tặc". Sái Kinh lấy danh nghĩa khôi phục tân pháp để áp chế phái khác, bài xích những người bất đồng. Sau khi Sái Kinh nắm quyền, ông ta tiến hành "Nguyên Hựu gian đảng án", các đại thần chính trị bị đưa ra khỏi vị trí chính trị trung tâm. Bản thân Tống Huy tham đại công, sau khi thấy triều Liêu bị triều Kim tiến công thì vào mùa xuân năm Trọng Hòa thứ 1 (1116), ông phái khiển sứ tiết Mã Chính từ Đăng châu vượt biển đến Kim. Hai bên thương nghị cùng tiến công Liêu, Tống phụ trách tiến công Nam Kinh và Tây Kinh của Liêu; sau khi diệt Liêu thì đất Yên Vân sẽ trao cho Tống; của cải mà Tống từng trao cho Liêu hàng năm trước đây chuyển sang trao cho Kim, tức là Hải thượng chi minh. Tuy nhiên, sau đó quân Kim thừa thắng đem nhân khẩu Yên Kinh về bắc, đồng thời cướp bóc ba châu Doanh, Bình, Loan. Năm Tuyên Hòa thứ 7 (1125), quân Kim phân thành hai lộ đông và tây nam hạ công Tống. Tống Huy Tông kinh sợ, sau đó theo kiến nghị của Lý Cương mà truyền vị cho con là Khâm Tông Triệu Hoàn. Tống Khâm Tông miễn cưỡng bước lên hoàng vị, thiếu quyết đoán chiến hay hòa, trong tình hình không còn cách nào bèn để Lý Cương bảo vệ Đông Kinh, Lý Cương tạm thời ngăn chặn quân Kim.

Năm Tĩnh Khang thứ 1 (1126), quân Kim nam hạ lần thứ hai, phân binh thành hai lộ tiến thẳng đến Khai Phong, thành Khai Phong bị quân Kim vây khốn. trong thành dịch bệnh lan truyền, không ít người chết đói và chết bệnh. Ngày Bính Thìn tháng 11 nhuận (9 tháng 1 năm 1127), Hoàn Nhan Tông Vọng, Hoàn Nhan Tông Hàn cùng chư tướng phá thành, bắt được Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông và phần lớn hoàng thất. Một số hoàng tử và công chúa bị giết, nhiều thê thiếp, công chúa và quận chúa của nhà Tống bị quân Kim chiếm đoạt và cưỡng hiếp.

Ngày sáu tháng 2 năm Tĩnh Khang thứ 2 (20 tháng 3 năm 1127), quân Kim bắt các phi tần, công chúa, quý thích cùng tông phụ, tộc phụ, ca nữ tổng cộng vài nghìn người lên phía bắc. Đến kinh đô nước Kim vào 21 tháng 8 năm 1128, 2 vua Tống phải mặc áo xô gai vào lạy ở miếu Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả rồi bị giải vào triều, bị vua Kim làm nhục. Các thê thiếp, công chúa của 2 vua cũng bị làm nhục, phải mặc áo lông cừu để lộ phần trên cơ thể rồi vào vái lạy ở miếu Kim Thái Tổ. Nhân Hoài hoàng hậu (chính cung của Tống Khâm Tông) không chịu nhục đã lao mình xuống nước tự vẫn. Kim Thái Tông phong Huy Tông làm "Hôn Đức công", Khâm Tông là "Trọng Hôn hầu" với ý miệt thị, sau đó dời hai cha con đến Hàn châu ngày 26 tháng 10 năm đó. Tháng 7 năm 1130, Hôn Đức công bị đưa đến thành Ngũ Quốc (Nay thuộc huyện Y Lan, tỉnh Bắc Long Giang, Trung Quốc)[tham 26], lúc này chỉ còn khoảng 140 người tùy tùng được đi theo. Cả hai vua Tống sau đó đều từ trần trên lãnh thổ Kim trong cảnh bị giam cầm.

Để tăng thêm sự sỉ nhục, khoảng 300 thê thiếp hoặc công chúa, quận chúa nhà Tống bị nhà Kim bắt đến Tẩy Y viện (洗衣院) làm tạp dịch, nhiều người trong số đó còn bị bắt làm kỹ nữ phục vụ cho quý tộc, tướng lĩnh nhà Kim hoặc bị quý tộc nhà Kim nạp làm thê thiếp, thậm chí bị đem ban thưởng như chiến lợi phẩm (Tháng giêng năm Thiên Hội thứ 6 (1128), khi sứ giả Nam Tống Vương Luân đến Vân Trung, tể tướng Kim là Hoàn Nhan Tông Hàn đem 1 người đàn bà và 1 người con gái trong tông thất nhà Tống tặng cho ông ta; lại đem 1 người con gái tông thất tặng cho sứ giả đi theo là Chu Tích. Vì Chu Tích không nhận nên bị xử tử).

Sự biến Tĩnh Khang là mối hận to lớn chưa từng thấy đối triều đình và thần dân nhà Tống, và cũng là nỗi nhục hiếm thấy đối với 1 triều đại trong lịch sử Trung Quốc.

Sau khi tiêu diệt Bắc Tống, Kim trước sau hỗ trợ Trương Bang Xương, Lưu Dự kiến lập hai chính quyền bù nhìn "Đại Sở" và "Đại Tề".[tham 27], nhưng đều không duy trì được lâu vì quan lại, dân chúng Tống vẫn căm hận, muốn tái lập nhà Tống.

Lịch sử Nam TốngSửa đổi

Kiến Viêm nam độSửa đổi

 
Tượng Nhạc Phi tại Nhạc vương miếu, Hàng Châu.

Trong Tĩnh Khang chi biến, triều Kim bắt được nhiều tông thất của triều Tống, song Khang vương Triệu Cấu may mắn tránh được. Năm Tĩnh Khang thứ 2 (1127), Triệu Cấu từ khu vực Hà Bắc ngày nay đến bồi đô Nam Kinh Quy Đức phủ (nay là Thương Khâu, Hà Nam), tức vị, tức Tống Cao Tông, cải nguyên Kiến Viêm. Sau đó, Tống Cao Tông dời về phía nam, vượt Hoài HàTrường Giang, đến năm Kiến Viêm thứ 3 thì đổi Giang Ninh phủ thành Kiến Khang phủ (nay là Nam Kinh), xem là hành đô, gọi là "Đông Đô". Năm Thiệu Hưng thứ 1 (1131), thăng Hàng châu thành Lâm An phủ (nay là Hàng Châu), xem là "hành tại", đến năm Thiệu Hưng thứ 8 thì chính thức định Lâm An là hành đô, Kiến Khang đổi thành lưu đô.[tham 28] Triều Kim tiến quân về phía nam, trực tiếp uy hiếp Lâm An, Cao Tông không còn đường thoát, chỉ có thể theo đường biển đào tị, phiêu bạt tới bốn tháng tại duyên hải Ôn châu. Do ở phương nam ẩm ướt sông ngòi dọc ngang, cộng thêm quân dân Nam Tống tích cực kháng chiến, chủ soái quân Kim là Ngột Truật quyết định triệt binh về bắc. Khi triệt thoái đến Trấn Giang, quân Kim bị tướng Tống Hàn Thế Trung cắt đứt đường lui, bị buộc phải tiến vào Hoàng Thiên Đãng. Quân Tống dùng binh lực chỉ tám nghìn mà vây khốn quân Kim đông tới mười vạn, sau 48 ngày bế tắc, cuối cùng quân Kim dùng hỏa công mới mở được lối thoát để triệt thoái, trên đường còn bị Nhạc Phi đả bại tại Kiến Khang, từ đó không dám vượt Trường Giang.[tham 29]

 
Bản đồ Nam Tống, Kim, Tây Hạ, Tây Liêu, Đại Lý vào năm 1141.

Trong "Trung Hưng tứ tướng" của Nam Tống, nổi danh nhất là Nhạc Phi. Thông qua Bắc phạt, Nam Tống chiếm lĩnh một phần lãnh thổ của chính quyền Đại Tề do Kim đứng sau. Tống Cao Tông do nhiều nguyên nhân nên một lòng nghị hòa, cuối cùng không hợp với ý tưởng Bắc phạt của Nhạc Phi. Năm 1138, Tống và Kim lần đầu nghị hòa, Nam Tống dùng đầu hàng ngoại giao để thu hồi Hà Nam và Thiểm Tây. Năm Thiệu Hưng thứ 10 (1140), triều Kim xé bỏ hòa nghị, nhanh chóng công hạ Hà Nam và Thiểm Tây, đồng thời thâm nhập về phía nam. Do quân dân triều Tống tích cực kháng chiến, quân Kim cuối cùng đều thất bại khi tiến công Xuyên Thiểm, Lưỡng Hoài. Tháng bảy, tướng Kim là Ngột Truật thấy bất lợi khi tiến công về phía nam, chuyển sang tiến công Yển Thành, bị Nhạc Phi đả bại, lại chuyển sang tiến công Dĩnh Xương song cũng bại trước Nhạc Phi. Nhạc gia quân thừa thắng truy kích, từng đánh tới trấn Chu Tiên cách Khai Phong gần 45 dặm, Ngột Truật đào thoát khỏi Khai Phong, nghĩa quân các địa phương phương bắc lần lượt hưởng ứng. Đúng lúc này, Tống Cao Tông liên tiếp hạ 12 đạo kim bài thôi thúc Nhạc Phi đem quân về. Tháng mười một năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), Tống và Kim thông qua thư tín đạt thành "Thiệu Hưng hòa nghị", hai bên lấy Hoài Thủy-Đại tán Quan (nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây) làm biên giới.[tham 30] Tống cắt nhượng Đường châu, Đặng châu và hơn một nửa Thương châu, Tần châu do Nhạc Phi chiếm lĩnh, mỗi năm Tống tiến cống Kim 25 vạn lượng bạc, 25 vạn xấp lụa. Đêm trừ tịch cuối tháng chạp (27 tháng 1 năm 1142), Tống Cao Tông và Tần Cối dùng tội danh "mạc thu hữu" để giết Nhạc Phi cùng con là Nhạc Vân và bộ tướng Trương Hiến tại Lâm An. Thực hiện "Thiệu Hưng hòa nghị", linh cữu của sinh phụ Tống Cao Tông là Tống Huy Tông và sinh mẫu được đưa về Nam Tống.

Tống Cao Tông nhiệm dụng Tần Cối làm thừa tướng, Tần Cối trong những năm Tĩnh Khang từng chủ trương kháng Kim, sau bị người Kim bắt. Tháng mười năm Kiến Viêm thứ 4 (1130), Tần Cối về nam, ông theo chính sách đầu hàng, rất hợp với ý của Cao Tông. Tần Cối về Nam Tống gần ba tháng thì được phong làm phó tể tướng, sau tám tháng thì trở thành hữu thừa tướng. Do Tần Cối hết sức đề xướng "nam tự nam, bắc tự bắc"[chú thích 1], mâu thuẫn với Cao Tông[chú thích 2], nên sau một năm thì bị Cao Tông bãi miễn. Sau khi bị bãi chức tể tướng, Tần Cối ẩn mình, xem xét tình hình để hành động. Tháng năm năm Thiệu Hưng thứ 8 (1138), Tống Cao Tông lại bổ nhiệm Tần Cối làm hữu thừa tướng. Sau đó, Tần Cối bách hại các quan viên có ý kiến bất đồng với mình, liên hôn với ngoại thích, kết giao nội thần. Sau này, Tần Cối có quyền thế cực lớn, khiến Tống Cao Tông cảnh giác. Tống Cao Tông đích thân hạ lệnh, khiến cháu nội của Tần Cối mất chức trạng nguyên, quyền thế của Tần Cối dần giảm đi. Năm Thiệu Hưng thứ 25 (1155), Tần Cối bệnh trọng, trù tính để con kế thừa chức thừa tướng, song bị Tống Cao Tông phủ quyết, không lâu sau thì mất.[tham 31]

Thiên an Nam GiangSửa đổi

 
Tống Hiếu Tông Triệu Thận.

Sau khi Tần Cối từ trần, Tống Cao Tông một mặt đả kích dư đảng của Tần Cối, một mặt trọng dụng quan viên phái chủ hòa. Tống Cao Tông không có năng lực sinh dục, do vậy ông chọn tuyển chọn người kế thừa trong số hai hậu duệ nổi bật của Tống Thái Tổ là Triệu Viện và Triệu Cừ, Triệu Viện giành thắng lợi. Năm Thiệu Hưng thứ 32 (1162), Triệu Viện được lập làm thái tử, đồng thời đổi tên thành Triệu Thận. Năm Thiệu Hưng thứ 31 (1161), Hoàng Đế Hoàn Nhan Lượng của Kim tiến hành xâm chiếm phương nam, bị Ngu Doãn Văn đánh lui trong trận Thái Thạch. Lúc này triều Kim phát sinh nội loạn, Hoàn Nhan Lượng bị giết, quân Kim về bắc. Sự kiện này khiến Tống Cao Tông nảy sinh ý muốn thoái vị, đến tháng 6 năm Thiệu Hưng thứ 32, Tống Cao Tông hạ chiếu thoái vị, Thái tử Triệu Thận kế vị, tức là Tống Hiếu Tông. Tống Cao Tông tự xưng là Thái thượng hoàng, cư trú tại Đức Thọ cung, sau đó hết sức hưởng lạc, hoang phí. Ngày tám tháng 10 năm Thuần Hi thứ 12 (1187), Tống Cao Tông từ trần.[tham 32]

Sau khi Tống Hiếu Tông tức vị, ông tiến hành cải cách triều chính, hết lức nỗ lực khôi phục, triều Tống tiến vào thời kỳ tương đối phục hưng, Tống Hiếu Tống giải oan cho Nhạc Phi, bắt đầu sử dụng nhân sĩ phái chủ chiến, một lòng muốn chiếm lĩnh Trung Nguyên. Tháng tư năm Long Hưng thứ 1 (1163), Tống Hiếu Tông lệnh Lý Hiển Trung, Triệu Hoành Uyên xuất binh Bắc phạt, Bắc phạt từng thu được thắng lợi, song do tướng lĩnh bất hòa cộng thêm tư tưởng khinh địch, cuối cùng thất bại. Sau đó, Tống Hiếu Tông bất đắc dĩ hòa đàm với Kim, vào tháng 12 năm Long Hưng thứ 2 (1164) thì hai bên chính thức ký kết hòa nghị, sử gọi là "Long Hưng hòa nghị". Tuy nhiên, Tống Hiếu Tông không mất ý chí khôi phục Trung Nguyên, tiếp tục chỉnh đốn quân bị. Tuy nhiên, do nhóm tướng lĩnh chủ chiến bao gồm Ngu Doãn Văn từ trần, sự nghiệp Bắc phạt dang dở. Trên phương diện nội chính, Tống Hiếu Tông tích cực chỉnh đốn lại trị, trừ bỏ quan yếu kém, trừng trị tham ô, tăng cường tập quyền, trọng thị sản xuất nông nghiệp. Xét về tổng thể, tình hình nội chính triều Tống có sự thay đổi. Sau khi Tống Cao Tông mất, Tống Hiếu Tông ngày càng lãnh đạm với chính trị, cuối cùng quyết định nhượng vị cho con là Triệu Đôn vào năm 1189, tức là Tống Quang Tông. Tống Quang Tông kế vị không lâu thì mắc bệnh về tinh thần, hết sức bất kính với Hiếu Tông. Tháng bảy năm Thiệu Hi thứ 5 (1194), Hiếu Tông từ trần.[tham 33]

Quang Tông có tính hay nghi kị, hết sức không tín nhiệm đại thần dưới triều Hiếu Tông, do vậy hai năm sau khi kế vị ngày càng điên loạn. Sau khi Hiếu Tông từ trần vào tháng 7 năm Thiệu Hy thứ 2, Tống Quang Tông không phục táng. Trong thành Lâm An hết sức hỗn loạn, cục thế bất ổn. Thành viên hoàng thất Tống là Triệu Nhữ NguTriệu Ngạn Du bí mật mưu tính lập quân chủ mới. Cuối cùng, Thái hoàng thái hậu hạ chiếu, Quang Tông được tôn làm Thái thượng hoàng. Năm 1195, con trai Quang Tông là Triệu Khoách kế vị, tức là Tống Ninh Tông, Quang Tông từ trần sáu năm sau đó. Sách sử viết rằng Tống Ninh Tông "bất tuệ", trí lực thấp kém. Triều đình của Tống Ninh Tông bị hai quyền thần là Hàn Thác TrụSử Di Viễn khống chế.[tham 34]

Nội ưu ngoại hoạnSửa đổi

Đầu thời Tống Ninh Tông, Triệu Nhữ Ngu nhậm chức tể tướng, người này về chính trị vốn giữ gìn khí tiết tốt đẹp. Tuy nhiên, do thành viên hoàng thất nhậm chức tể tướng không hợp phép tắc từ trước, lại thêm Hàn Thác Trụ khích động, nên cuối cũng bị bãi chức tể tướng. Tuy nhiên, dân gian Nam Tống vẫn hết sức hoài niệm Triệu Ngữ Ngu, mỗi ngày trên cửa thành Lâm An đều có thơ văn điệu niệm. Nhằm triệt để thanh trừ ảnh hưởng của Triệu Nhữ Ngu, Hàn Thác Trụ mượn danh nghĩa học thuật, gây ra "Khánh Nguyên đảng cấm", đem lý học gọi là "ngụy học". Đương thời, đại thần lý học trong triều đại đa số phản đối Hàn Thác Trụ, Hàn Thác Trụ do đó tống khứ toàn bộ nhóm sĩ đại phu này khỏi triều đình. Khoảng năm Kháng Nguyên thứ 6 (1200), Hàn Thác Trụ thấy lý học đã không còn là mối uy hiếp, nên giải trừ đảng cấm. Đảng cấm không được lòng người, nhằm lung lạc sĩ nhân, Hàn Thác Trụ còn mượn danh nghĩa Bắc phạt để mê hoặc lòng người.[tham 35] Năm Khai Hy thứ 2 (1206), Hàn Thác Trụ thiếu thận trọng tiến hành "Khai Hy bắc phạt", kết quả nhanh chóng thất bại. Thất bại của Bắc phạt khiến Hàn Thác Trụ trở thành mục tiêu bị công kích, địch thủ chính trị của Hàn Thác Trụ là Sử Di Viễn nhân cơ hội này cùng phái chủ hòa và phái phản đối Hàn Thác Trụ kết thành liên minh, triều Kim cũng yêu cầu giết Hàn Thác Trụ làm một điều kiện hòa đàm. Ngày ba tháng 11 năm Khai Hy thứ 3 (1207), nhóm Sử Di Viễn ngụy tạo mật chỉ, giết chết Hàn Thác Trụcầu Lục Bộ, từ đó bắt đầu thời kỳ Sử Di Viễn chuyên chính. Sử Di Viễn và Dương hoàng hậu câu kết nắm hết đại quyền.[tham 36]

Tống Ninh Tông vốn có tám hoàng tử, song đều chết yểu, do vậy lập Triệu Hoành-con của em họ là Nghi vương- làm thái tử. Triệu Hoành hết sức bất mãn trước việc Sử Di Viễn chuyên chính, do vậy Sử Di Viễn phế ngôi thái tử của Triệu Hoành, cải lập một thành viên xa trong hoàng tộc là Triệu Quân (Tống Lý Tông sau này) làm người kế thừa hoàng vị. Ngày ba tháng tám nhuận năm Gia Định thứ 11 (1224), Tống Ninh Tông từ trần, Triệu Quân kế vị, tức là Tống Lý Tông. Sau đó, Sử Di Viễn tiếp tục chuyên chính, Tống Lý Tông thi hành sách lược ẩn mình chờ thời. Tháng mười năm Thiệu Định thứ 6 (1233), Sử Di Viễn từ trần, Tống Lý Tông cuối cùng thoát khỏi bóng của Sử Di Viễn, sang năm sau cải niên hiệu thành Đoan Bình, thực thi một loạt cải cách, sử gọi là "Đoan Bình canh hóa". Tống Lý Tông bài xích triệt để cựu đảng của Sử Di Viễn, triều chính từng có biến đổi. Đương thời, triều Kim từng bước diệt vong trước đế quốc Mông Cổ, chính sách đối ngoại trong triều đình Tống phân thành hai phái, một phái nhận định nên liên Mông kháng Kim, phái còn lại lấy đạo lý môi hở răng lạnh và kinh nghiệm từ "Hải thượng chi minh", chủ trương viện Kim kháng Mông, biến Kim thành tường che chắn cho Nam Tống.[tham 37]

Tháng chạp năm Thiệu Định thứ 5 (1232), Mông Cổ khiển sử thương nghị về việc Tống và Mông hợp tác giáp kích triều Kim, do chủ lực của triều Kim đã bị Mông Cổ diệt hết trong trận Tam Phong Sơn, nguy cơ vong quốc hiện rõ, đại thần đương triều của Tống đại đa số tán đồng liên Mông kháng Kim, chỉ có Triệu Phạm phản đối. Tống Lý Tông đáp ứng yêu cầu của Mông Cổ, Mông Cổ bằng lòng rằng sau khi diệt Kim sẽ đem Hà Nam giao cho Tống. Tuy nhiên, đây chỉ là hiệp định bằng miệng chứ không lưu thành văn kiện, gây nên hậu hoạn. Kim Ai Tông biết tin, cũng phái sứ tiết đến Tống trình bày lợi hại, hy vọng liên hiệp kháng Mông, song bị Tống Lý Tông cự tuyệt. Tống Lý Tông nhiệm mệnh Sử Tung Chi chủ quản công việc diệt Kim. Năm Thiệu Định thứ 6 (1233), quân Tống đánh chiếm Đặng châu. Năm Đoan Bình thứ 1 (1234), Thái châu bị chiếm, triều Kim diệt vong. Tướng Tống là Mạnh Củng đem di cốt của Kim Ai Tông về Lâm An, Tống Lý Tông lệnh đem di cốt đó tế cáo tại Thái miếu[tham 38], rồi sau đó giam tại Đại Lý tự để tượng trưng cho mối hận Tĩnh Khang của nhà Tống đã được rửa.

Kháng cự quân MôngSửa đổi

 
Bậc đá tại Điếu Ngư thành tại Hợp Xuyên.

Sau khi triều Kim diệt vong, quân Mông Cổ triệt thoái về phía bắc, Hà Nam trống không, Tống Lý Tông có ý đồ chiếm cứ Đồng Quan, Hoàng Hà, thu phục Tam Kinh (Đông Kinh Khai Phong, Tây Kinh Lạc Dương, Nam Kinh Quy Đức), quang phục Trung Nguyên. Tháng năm năm Đoan Bình thứ 1 (1234), Tống Lý Tông nhiệm mệnh Triệu Quỳ làm chủ soái, Toàn Tử Tài làm tiên phong, hạ chiếu xuất binh đến Hà Nam. Ngày mười hai tháng sáu, Toàn Tử Tài thu phục Nam Kinh. Ngày năm tháng bảy, quân Tống tiến trú Khai Phong. Tuy nhiên, do lương thảo không đủ nên lỡ thời cơ, khi tiến công Lạc Dương bị quân Mông Cổ phục kích, tổn thất nghiêm trọng. Các lộ quân Tống toàn tuyến chiến bại và triệt thoái. "Đoan Bình nhập Lạc" thất bại, Tống do chiến dịch này mà tổn thất nghiêm trọng, lãng phí một lượng lớn tinh binh và vật tư, tạo cớ cho Mông Cổ xâm chiếm Tống sau này. Sau "Đoan Bình nhập Lạc", Tống Lý Tông sao lãng chính sự, đắm chìm trong hưởng lạc, triều chính đại hoại.[tham 39]

Năm Đoan Bình thứ 2 (1235), ba lộ quân Mông Cổ phân biệt xâm nhập Xuyên Thiểm Tứ lộ, Kinh Hồ Bắc Lộ và Hoài Nam Tây lộ, song đều bị đánh lui. Quân Mông không cam tâm, đến tháng 9 năm sau và năm tiếp đó lại phân thành ba lộ xâm nhập phương nam, quân tiền phong tiếp cận bờ bắc Trường Giang. Do quân Tống nỗ lực tác chiến, đả bại quân Mông, hơn một lần bẽ gẫy mưu tính của quân Mông là chiếm lĩnh Xuyên Thiểm Tứ lộ để vượt Trường Giang nam hạ. Sau đó, quân dân Tống dưới quyền chỉ huy của các tướng lĩnh kháng Mông như Vương Kiên, Mạnh Củng nhiều lần đánh bại quân Mông, khiến họ buộc phải đi đường vòng. Năm Khai Khánh thứ 1 (1259), Đại hãn của Mông Cổ là Mông Kha khi chinh chiến tại Hợp châu bị trúng tên của quân Tống rồi tử thương. Em trai Mông Kha là Hốt Tất Liệt đang giao chiến với quân Tống tại Ngạc châu, khi biết tin Mông Kha tử vong và em là A Lý Bất Ca chuẩn bị xưng hãn tại Hòa Lâm (Karakorum), quyết định chuẩn bị triệt quân để tranh ngôi đại hãn, quyền thần triều Tống là Giả Tự Đạo nhân cơ hội này cùng Hốt Tất Liệt nghị hòa, nhằm bảo đảm hòa bình. Hốt Tất Liệt trở về phương bắc tự lập làm hãn.[tham 39]

Hai hoàng tử của Tống Lý Tông chết yểu, do vậy chọn con của em trai tên Triệu Dữ Nhuế là Triệu Kì làm hoàng tử. Do mẹ của Triệu Kì trong thời gian mang thai từng uống thảo dược phá thai, do vậy Triệu Kỳ sinh thiếu tháng. Tháng 6 năm Cảnh Định thứ 1 (1260), Tống Lý Tông hạ chiếu lập Triệu Kỳ làm thái tử. Ngày hai mươi sáu tháng 12 năm Cảnh Định thứ 5 (1264), Tống Lý Tông từ trần, Triệu Kì kế vị, tức là Tống Độ Tông. Sau khi kế vị, Tống Độ Tông không quản triều chính, Hữu thừa tướng Giả Tự Đạo do vậy chuyên quyền. Giả Tự Đạo kết đảng mưu tư lợi, bài xích những người bất đồng với mình, suốt ngày trong biệt thự tại Cát Lĩnh cùng thê thiếp nô đùa, do ông thích đấu dế, nên người đời gọi ông là "Tất suất tể tướng", tức tể tướng dế. Giả Tự Đạo cấm chỉ báo tin chiến sự cho Tống Độ Tông. Tương Dương, Phàn Thành sau ba năm bị vây thì Tống Độ Tông mới biết được. Năm Hàm Thuần thứ 7 (1271), Hốt Tất Liệt tại Đại Đô (nay là Bắc Kinh) kiến quốc, hiệu là "Đại Nguyên", kiến lập triều Nguyên. Ngày chín tháng 7 năm Hàm Thuần thứ 10 (12 tháng 8 năm 1274), Tống Độ Tông từ trần ở tuổi 35.[tham 39]Trước đó, ngày 14 tháng 3 năm 1273, Tương Phàn thất thủ sau khi Lã Văn Hoán dâng thành đầu hàng quân Nguyên.

Hải chiến Nhai Môn và diệt vongSửa đổi

Sau khi Tống Độ Tông từ trần, hoàng tử Triệu Hiển kế vị khi mới 4 tuổi, tức là Tống Cung Đế, triều Tống đương thời đã tiến vào trạng thái bế tắc. Mùa xuân năm Đức Hựu thứ 1 (1275), quân Nguyên công chiếm các trọng trấn về quân sự là An KhánhTrì Châu, uy hiếp Kiến Khang, phòng tuyến Trường Giang tan vỡ. Triều đình Tống hết sức kinh hãi, các giới đều hy vọng Giả Tự Đạo có thể xuất chinh, kết quả quân Tống đại bại, Giả Tự Đạo bị giáng chức, trên đường đi nhậm chức thì bị Trịnh Hổ Thần sát hại. Ngày hai mươi tháng 11 năm Đức Hựu thứ 1, Thường Châu bị chiếm, quân Nguyên tàn sát người trong thành. Không lâu sau, tin Bình Giang bị chiếm cũng đến, người Lâm An lo sợ. Tháng giêng năm Đức Hựu thứ 2 (1276), thành Lâm An cử hành nghi thức thụ hàng ngày 4 tháng 2 năm 1276 - tròn 316 năm ngày nhà Tống thành lập. Tống Cung Đế thoái vị, Nam Tống mất. Tuy nhiên, anh của Tống Cung Đế là Triệu Thị và em là Triệu Bính được đại thần bảo hộ đào thoát khỏi Lâm An.[tham 40]

Triệu Thị tức vị tại Phúc Châu, tức là Tống Đoan Tông, cải niên hiệu là Cảnh Viêm (1276). Tuy nhiên, nội bộ triều đình đấu tranh không ngừng, vào tháng 11 năm Cảnh Viêm thứ 1, quân Nguyên tới sát Phúc Châu, ngày mười lăm tháng mười một, quyền thần là Trần Nghi Trung, Trương Thế Kiệt hộ tống Triệu Thị và Triệu Bính đi thuyền về phía nam. Mùa xuân năm Cảnh Viêm thứ 3 (1278), tiểu triều đình đến Lôi Châu. Ngày mười lăm tháng tháng tư, Triệu Thị từ trần khi gần 11 tuổi, Lục Tú Phu và chúng thần tôn Triệu Bính làm hoàng đế, cải niên hiệu thành Tường Hưng (1278). Đến khi Lôi Châu thất thủ trước quân Nguyên, tiểu triều đình dời sang Nhai Sơn (nay thuộc Giang Môn, Quảng Đông). Tướng lĩnh quân Nguyên là Trương Hoằng Phạm lãnh quân truy kích, phát động tổng công kích Nhai Sơn, quân Tống không có năng lực chiến đấu, toàn tuyết thất bại, sử gọi là hải chiến Nhai Sơn. Triệu Bỉnh theo Lục Tú Phu và hơn tám trăm thành viên hoàng tộc Tống nhảy xuống biển tự vẫn, đến đây thế lực hoàng tộc triều Tống bị tiêu diệt triệt để.[tham 41]

Chế độ chính trịSửa đổi

Tổng quanSửa đổi

Vào sơ kỳ, thể chế Bắc Tống đại thể vẫn kế tục chế độ chính trị triều Đường.

Tuy nhiên, Tể tướng không còn do các quan đứng đầu Tam tỉnh đảm nhiệm, mà là Đồng trung thư môn hạ bình chương sự (同中書門下平章事), sung nhiệm Thượng thư tả hữu thừa (尚書左右丞) đến Thị lang lục bộ trở lên. Thông thường đặt hai Tể tướng, có khi đặt một hoặc ba tể tướng, Tể tướng còn kiêm chức Quán, Điện Đại học sĩ. Triều đình còn đặt thêm Tham tri chính sự (參知政事) làm Phó tể tướng, cho sung nhiệm từ Trung thư xá nhân (中書舍人) đến Thượng thư lục bộ; thường thay đổi, thường đặt hai người, có khi đặt một người, ba hoặc bốn người.

Trung ương chính quyền thời Tống phân hóa ba nhánh chính:

Thời Tống, quyền của Tể tướng bị thu hẹp mạnh, chỉ phụ trách chức năng hành chính. Quyền lực của Tam ty, Tể chấpXu mật sứ chế ngự lẫn nhau, chính vì vậy đã giảm bớt quyền lực độc quyền trước đây của Tể tướng, ngược lại còn tăng cường hoàng quyền, một thể chế quân chủ tập quyền đúng nghĩa. Ngoài Ngự sử đài, triều Tống còn đặt thêm Gián việnTrí gián quan, đều là các cơ cấu giám sát, phụ trách sự tình tra hỏi.

Đầu thời Bắc Tống, Tể tướng chủ quản dân chính, Xu mật sứ chủ quản quân chính, Tam ty sứ chủ quản tài chính. Sau "Nguyên Phong quan chế cải cách thời Tống Thần Tông, Tể tướng trên thực tế kiêm quản tài chính. Thời Nam Tống, tể tướng còn kiêm nhiệm Xu mật sứ, kiêm quản quân chính. Điều này khiến Tể tướng lại khống chế đại quyền dân chính, tài chính và quân chính.

Quan chế trung ươngSửa đổi

Tam tỉnh Lục bộ của triều Tống một số được lập mới, một số được thay thế chức quyền. Như Thẩm quan viện thay thế thi hành chức quyền thi khảo quan chức triều đình trung ương vốn thuộc về Lại bộ; Thái thường lễ việnLễ nghi viện thay thế thi hành quyền lễ nghi của Lễ bộ; Tam ty thay thế thi hành đại bộ phận chức quyền của Hộ bộCông bộ; Thẩm hình viện thay thế thi hành công việc của Hình bộ trong việc phúc thẩm án kiện do Đại lý tự xác định. Đến thời "Nguyên Phong quan chế cải cách", Tam tỉnh thay thế Trung thư môn hạ, tại lục bộ thiết lập Thượng thư và Thị lang, chủ quản sự vụ các bộ; còn Tam tỉnh lục bộ chỉ thi hành chức quyền tương ứng[tham 42].

Trung thư môn hạ (中書門下) đặt trong cung cấm, là cơ quan hành chính tối cao, Tể tướng và phó tể tướng xử lý chính sự tập thể. Tể tướng gọi là Đồng trung thư môn hạ bình chương sự (同中書門下平章事), phó tể tướng gọi là Tham tri chính sự (參知政事). Việc đặt chức phó tể tướng là nhắm phân tán quyền lực của Tể tướng, cũng như mở rộng năng lực xử lý chính vụ, đây là một đặc sắc trong chính trị thời Tống.[tham 42] Thời "Nguyên Phong quan chế cải cách", triều đình đem Trung thư môn hạ đổi thành Môn hạ tỉnh, Trung thư tỉnhThượng thư tỉnh; cho các Thượng thư tả, hữu bộc xạ kiêm Môn hạ, Trung thư thị lang làm Tể tướng; đặt lại tại mỗi tỉnh các Môn hạ, Trung thư thị lang; các Thượng thư tả, hữu thừa làm phó tể tướng. Thời Tống Huy Tông, Sái Kinh xưng là Thái sư, thống lĩnh sự vụ của Tam tỉnh, đổi Thượng thư tả, hữu bộc xạ thành Thái tể, Thiếu tể, cho làm Tể tướng. Thời Tống Cao Tông, nhằm tập trung chính vụ để ứng phó quân vụ cấp bách, triều đình đem Tam tỉnh hợp làm một, đổi Tả, hữu bộc xạ thành Tả, hữu thừa tướng. Thời Tống Triết Tông, đặt chức Bình chương quân quốc trọng sự (平章軍國重事) hoặc Đồng Bình chương quân quốc sự (同平章軍國事), nhằm đặt "lão thần thạc đức" ở vị trí trên tể tướng, vài ngày đến chầu một lần. Thời Tống Ninh Tông, Hàn Thác Trụ nhậm chức "Bình chương quân quốc sự", ba ngày đến chầu một lần, Tể tướng không còn chưởng quản ấn tín. Những năm cuối Nam Tống, Giả Tự Đạo chuyên quyền, nhậm chức "Bình chương quân quốc trọng sự"; Tả hữu thừa tướng trên thực tế có địa vị như phó tể tướng.[tham 42]

Xu mật viện (樞密院) là cơ quan tối cao về quân chính toàn quốc, quan đứng đầu là Xu mật sứ (密院事) hoặc Tri xu mật viện sự (知樞密院事), sung nhiệm chức vụ từ Gián nghị đại phu đến Thượng thư lục bộ; quan cấp phó là Xu mật phó sư (樞密副使) hoặc Đồng tri xu mật viện sự (同知樞密院事), sung nhiệm chức vụ từ Khởi cư xá nhân đến Thượng thư tả, hữu thừa. Người ít thâm niên gọi là "Thiêm thư xu mật viện sự", "Đồng thiêm thư xu mật viện sự", không thường đặt. Nhằm đề phòng cục diện phiên trấn cát cứ thời Đường tái diễn, những chức vụ này đại đa số do quan văn đảm nhiệm. Xu mật viện chưởng quản quyền lực điều độ quân mã toàn quốc, và quản lý, huấn luyện, phòng ngự, thăng chức, thưởng phạt trong cấm quân toàn quốc đều do "tam nha" liên hiệp quản lý. Tam nha chính là Điện tiền đô chỉ huy ty, Thị vệ mã quân đốc chỉ huy sứ tyThị vệ bộ quân đốc chỉ huy sứ ty. Quan đứng đầu Xu mật viện cùng với Tham tri chính sự, Môn hạ thị lang, Trung thư thị lang, Thượng thư tả, hữu thừa tướng gọi chung là Chấp chính (執政). Tể tướng và quan chấp chính gọi chung là Tể chấp (宰執)[tham 43].

Tam ty (三司) là cơ quan tối cao chủ quản tài chính, tức ba cơ quan là Diêm thiết bộ, Độ chi bộ cùng bộ Hộ. Quan đứng đầu gọi là Tam ty sứ (三司使), sung nhiệm chức vụ từ Ngũ phẩm trở lên và Tri chế cáo, tạp học sĩ, học sĩ. Người cấp phó gọi là Tam ty phó sứ (三司副使), sung nhiệm chức vụ từ Viên ngoại lang trở lên. Trong "Nguyên Phong quan chế cải cách" thời Tống Thần Tông, chức quyền của Tam ti được quy về Hộ bộ và Công bộ. Nam Tống từng đặt thêm Tổng lĩnh sở (總領所), phụ trách cung ứng tiền lương các quân một số lộ hoặc một lộ, đồng thời tham dự quân chính. Người đứng đầu cơ quan này gọi là "Tổng lĩnh mỗ lộ tài phú quân mã tiền lương", giản xưng Tổng lĩnh (總領)[tham 44]

Ngự sử đài (御史台) chuyên quản giám sát, quan đứng đầu gọi là Ngự sử trung thừa (御史中丞), người cấp phó gọi là Ngự sử tri tạp sự (御史知雜事), chủ quản kiểm soát bá quan, chỉnh đốn kỷ cương. Quan của Ngự sử đài có quyền hạch hỏi, có thể trình tấu ngôn sự, bình luận triều chính, hạch hỏi quan viên, còn được phép luận sự phong văn. Dưới Ngự sử đài đặt ba viện: Đài viện (臺院), Điện viện (殿院), Sát viện (察院); bên dưới tiếp tục đặt Thị ngự sử (侍御史), Điện trung thị ngự sử (殿中侍御史), Giám sát ngự sử (監察御史). Gián viện là cơ cấu chuyên quản việc khuyến gián. Thời Tống Nhân Tông mới đặt riêng viện, quan đứng đầu gọi là Tri gián viện sự (知諫院事) hoặc Tả Hữu Gián nghị đại phu (諫議大夫), phàm là khuyết điểm triều chính, bất kể quyền thần nào, quan phủ các cấp làm việc sai trái, đều có thể gián chính. Quan của Đài viện và Gián viện đều có trách nhiệm là tiến gián, hạch hỏi, chức quyền vốn không có sai biệt nhiều, tình hình này khiến thời sau hợp nhất Đài viện và Gián viện.[tham 45]

Cuối cùng, cơ cấu khởi thảo chế cáo cho hoàng đế, quốc thư, hoặc văn thư sử dụng trong cung đình là Hàn lâm học sĩ viện (翰林學士院), đặt các chức Hàn lâm học sĩ (翰林學士); Hàn lâm học sĩ thừa chỉ (翰林學士承旨) hay Hàn lâm thị độc học sĩ (翰林侍讀學士) và Trực học sĩ viện (直學士院). Hàn lâm học sĩ và Trung thư xá nhân hoặc Tri chế cáo phân quản "nội chế" và "ngoại chế", gọi chung là Lưỡng chế, các Hàn lâm học sĩ còn thị phụng hoàng đế, đảm đương vai trò cố vấn.

Đầu thời Tống, cơ cấu tư pháp tối cao là Đại lý tự và Hình bộ. Tống Thái Tông đặt Thẩm hình viện (審刑院), quan đứng đầu gọi là Thẩm hình viện sự (審刑院事). Các địa phương tấu án trước tiên là qua Đại lý tự phán quyết, báo cáo Thẩm hình viện phức tra, viết ra bản thảo tấu, trình lên Trung thư. Trung thư đích thân tấu để hoàng đế luận quyết, đến khi Tống Thần Tông cải cách quan chế thì Thẩm hình viện nhập vào Hình bộ.[tham 46]

Chế độ quản lý quan viênSửa đổi

Thời Tống, thực hành chế độ phân ly quan, chức và sai khiển. Đầu thời Tống, tận dụng các quan danh tam tỉnh lục bộ triều Đường tổ hợp thành cấp quan, chỉ dùng để định phẩm cấp, bổng lộc, chương phục và thăng cấp, do đó còn gọi là "giai quan" hoặc "ký lộc quan". Thời "Nguyên Phong quan chế cải cách" Tống Thần Tông, văn quan (kinh triều quan) định thành 25 bậc, thời Tống Huy Tông tăng thành 37 bậc (bao gồm tuyển nhân), còn cải định võ quan tổng cộng 52 bậc. Sai khiển là chỉ chức vụ thực tế mà quan viên đảm nhiệm, tức "chức vụ quan". Đầu thời Bắc Tống, quan phẩm kế tục chế độ triều Đường, văn quan tổng cộng có 9 phẩm, có chính, tòng; từ chính tứ phẩm trở xuống, lại phân thành thượng và hạ, tổng cộng có 30 đẳng. Tuy nhiên, nhiều quan phẩm và quan chức không tương xứng. "Nguyên Phong quan chế cải cách" chuyển đổi sang gắn chức danh với trách nhiệm thực, giảm thiểu đẳng cấp quan phẩm, cải thành cửu phẩm chính, tòng, tức 18 cấp. Triều đình đối với quan viên các cấp chế định các chế độ ma khám (khảo sát công lao lỗi lầm), tự thiên (thăng chức theo công lao), ấm bổ (bổ nhiệm theo công lao của tổ tiên). Đối với quan viên trung và thượng cấp, họ được đãi ngộ khá tốt, có bổng lộc, chức điền, từ lộc, ân thưởng. Sau thời Tống Thần Tông, một số quan viên hạ đài hoặc sắp hạ đài còn được trao cho hoặc tự thỉnh đảm nhiệm các chức vụ thanh nhàn như "cung quan quan", "giám nhạc miếu", ngồi lĩnh "từ lộc". Ngoài ra, các loại ban thưởng nhất thời của triều đình cũng trở thành một khoản thu nhập kinh tế trọng yếu của quan viên. Việc phân ly quan, chức và sai khiển khiến xuất hiện số lượng lớn quan viên dư thừa[tham 47]

Quân sựSửa đổi

 
Một chiếc chiến thuyền triều Tống, lấy từ "Vũ kinh tổng yếu".

Những năm đầu, Bắc Tống kế tục chế độ thời Hậu Chu, đặt "Điện tiền ty" và "Thị vệ thân quân ty", gọi chung là lưỡng ty,[tham 48] với các quân chức cao cấp như "Điện tiền ty đô điểm kiểm", "Điện tiền ty phó đô điểm kiểm", "Thị vệ thân quân ty mã bộ quân đô chỉ huy sứ", "Thị vệ thân quân ty phó đô chỉ huy sứ". Nhằm tăng cường hoàng quyền và ổn định tầng lớp quân sự, Tống Thái Tổ quyết định tăng cường trung ương tập quyền, đề phòng võ tướng tước đoạt quyền lợi.[tham 49] Tháng ba năm Kiến Long thứ 2 (961), Tống Thái Tổ tước bỏ quân chức "điện tiền ty đô điểm kiểm" trọng yếu trong cấm quân. Tháng bảy cùng năm, Tống Thái Tổ thông qua "bôi tửu thích binh quyền" để giải trừ quân quyền của võ tướng, đồng thời phế trừ chức "điện tiền ty phó đô điểm kiểm",[tham 50] Thị vệ thân quân ty mã bộ quân đô chỉ huy sứ và phó đô chỉ huy sứ trong một thời gian dài không đặt,[tham 51]. Năm Cảnh Đức thứ 2 (1005) thời Tống Chân Tông, phế bỏ "thị vệ thân quân ty đô ngu hầu",[tham 52] "thị vệ thân quân ty" phân thành "thị vệ thân quân mã quân ty" và "thị vệ thân quân bộ quân ty", hai đơn vị này và "điện tiền ty" được gọi chung là "tam nha", đến đây hoàn thành diễn biến từ lưỡng ty đến tam nha môn, tam nha phân biệt do "điện tiền ty đô chỉ huy sứ", "thị vệ thân quân ty mã quân đô chỉ huy sứ" và "thị vệ thân quân ty bộ quân đô chỉ huy sứ" thống lĩnh. Tuy vậy, tam soái không có quyền phát binh. Thời Tống, tại trung ương thiết lập xu mật viện để phục trách quân vụ, xu mật viện do hoàng đế phụ trách trực tiếp, bất kỳ quan viên nào cũng không được can thiệp. Xu mật viện tuy có thể phát binh, song không thể trực tiếp thống quân, điều này dẫn đến phân ly quyền thống binh và quyền điều binh. Triều Tống thực hành "Canh Tuất pháp", thường tiến hành thay thế tướng lĩnh thống binh, nhằm khiến tướng không thể chuyên thống lĩnh một đơn vị, nhằm đề phòng trong quân đội xuất hiện thế lực cá nhân. Thời chiến tranh, tư lệnh chiến khu đều do văn quan hoặc thái giám đảm nhiệm, và cải biến chiến lược nhất thiết phải được hoàng đế đồng ý, điều này có ảnh hưởng tiêu cực đến chiến lực của triều Tống. Triều Tống thực hành "sùng văn ức võ, dĩ văn chế võ", xu mật viện sứ và xu mật viện phó sứ phần nhiều là do văn quan đảm nhiệm, thiểu số võ thần từng nhậm chức tại xu mật viện, song đều chịu sự phản đối từ văn thần với lý do quy tắc của tổ tông,[tham 53] đều bị bãi truất. Sau thời Tống Chân Tông, triều đình sử dụng văn quan làm quan thống binh, đốc soái võ tướng, dần thành quán lệ; an phủ sứ, kinh lược an phủ sứ do văn quan đảm nhiệm, võ tướng đảm nhiệm đô bộ thư (đô tổng quản), phó đô bộ thự, bộ tự (tổng quản), phó bộ thự, kiềm hạt, tuần kiểm, đô giám, hiệu là tướng quan, lĩnh binh mã, thụ chỉ huy. Thời kiến quốc, Tống bố trí binh lực "thủ nội hư ngoại", song sau những năm Hi Ninh (1068-1077) thì quân đồn trú tại thủ đô giảm thiểu[chú thích 3]

Triều Tống thi hành chế độ mộ binh mang tính tự nguyện[tham 54], và trong năm có nạn thì chiêu mộ dân lưu tán, dân đói làm binh sĩ, như một loại quốc sách truyền thống, có tính chất phúc lợi xã hội, tạo tác dụng ổn định chính quyền[chú thích 4][chú thích 5] Quân đội triều Tống phân thành bốn quân chủng là cấm quân, sương quân, hương binh, phiên binh. Cấm quân là quân chính quy, cũng là chủ lực trong quân đội triều Tống. Sương quân là trấn binh các châu, do quan đứng đầu địa phương khống chế. Hương binh gồm các tráng đinh được các cơ quan chọn ra. Phiên binh là quân đội dân tộc phi Hán phòng thủ tại biên cảnh[tham 55].

 
Máy bắn đá vẽ trong "Vũ kinh tổng yếu".

Bắc Tống từ thời trung kỳ về sau tiến hành chiến tranh với các quốc gia Liêu và Tây Hạ, khiến phí tổn quân sự gia tăng, đối với tướng soái thống binh hạn chế quá nhiều "quyền nhiệm nhẹ song pháp chế mật", tướng không được chuyên binh, bị kiềm chế hành động; chủ tướng không biết bộ tướng có tài hay không, còn các tướng lĩnh thì không biết mạnh yếu của tam quân, mỗi người không quản hạt lẫn nhau, tự khiêm nhường. Ngoài ra, kỷ luật quân đội bất minh khiến quân Tống thiếu huấn luyện nghiêm trọng, suốt ngày "du hí giữa phố chợ". Trương Diễn Bình nói rằng triều Tống đối đãi với võ thần thì hậu về lộc song bạc về lễ.[tham 56] Chủ lực trong quân đội Nam Tống là đại binh đồn trú và tam nha. Đại binh đồn trú có sức chiến đấu khá mạnh, phần nhiều thuộc bộ đội do tư nhân triệu mộ, như "Nhạc gia quân". Đương thời, năng lực khống chế quân đội của triều đình đã yếu đi, quyền hạn của Xu mật viện cũng dần giảm thiểu. Năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), binh quyền của các tướng lĩnh như Hàn Thế Trung, Nhạc Phi lần lượt bị tước giảm[tham 57]

Thời Tống, kỹ thuật quân sự rất tiến bộ, từ triều Tống về trước vẫn nằm trong thời đại lãnh binh khí, song từ triều Tống trở đi thì hỏa khí bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chiến tranh, sử dụng các vũ khí "phích lịch pháo", "chấn thiêu lôi", "dẫn hỏa cẩu", "thiết hỏa pháo", "hỏa tiễn", "hỏa cầu", "hỏa thương", "hỏa pháo", từng bước tiến vào thời đại sử dụng cả lãnh binh khí và hỏa khí. Về trang thiết bị thủy chiến, thủy quân vẫn phát triển tại khu vực Giang Hà, Tần Hải, thời Nam Tống còn có "xa thuyền". Về máy bắn đá thì có "xa hành pháo", "đơn sảo pháo", "toàn phong pháo"[tham 58] Trong các đời vua, tại trung ương và địa phương thiết lập nhiều cơ cấu chế tạo và quản lý binh khí, khống chế nghiêm ngặt chế tạo và phân phát binh khí, còn quy định chế độ kiểm tra, duy tu và trao binh khí.

Trong việc bảo vệ thành trì, phát triển các cách thức xuất thành chế, nỗ đài, địch lâu. Trong đó, có danh tiếng nhất là thể chế phòng ngự sơn thành, tướng Dư Giới của Nam Tống tại Tứ Xuyên phòng ngự quân Mông Cổ, nhằm củng cố khu vực Xuyên Tây đã sử dụng phương châm "thủ điểm bất thủ tuyến, liên điểm nhi thành tuyến", xây đắp thành Điếu Ngư, Đại Hoạch, Thanh Cư, Vân Đính, Thần Tí, Thiên Sinh, tổng cộng hơn 10 thành, hình thành một mạng lưới phòng ngự, đề kháng thành công sự công kích của quân Mông Cổ[tham 59]

"Trung Hưng tứ tướng Nhạc Phi, Trương Tuấn, Hàn Thế Trung, Lưu Quang Thế đồ" của Lưu Tùng Niên thời Nam Tống. Thứ hai bên trái là Nhạc Phi, thứ tư là Trương Tuần, thứ hai bên phải là Lưu Quang Thế, thứ tư là Hàn Thế Trung.

Ngoại giaoSửa đổi

Triều Tống thường xuyên có ngoại địch, tính trọng yếu của ngoại giao ngày càng gia tăng. Đối với các đối tượng ngoại giao khác nhau, triều Tống lại có cách đối đãi khác biệt, đồng thời tiến hành chuyên môn hóa. Liêu và Kim đều cấu thành mối uy hiếp cực lớn đối với triều Tống, sự vụ ngoại giao với hai triều đại này chủ yếu do Lễ viện của Xu mật viện phụ tráchBản mẫu:备注, bao gồm văn thư qua lại, phái khiển và tiếp đãi sứ tiết. Năm Nguyên Phong thứ 1 (1078), Xu mật viện lập riêng Bắc diện phòng, quản lý quốc tín với phương bắc, Nam Tống kế tục. Ngoài ra, triều Tống còn lập riêng 'quốc tín sở' chủ quản quốc tín qua lại, là cơ cấu phụ trách cụ thể sự vụ qua lại với Liêu và Kim. Với các quốc gia Tây Hạ, Cao Ly, An Nam, do triều Tống nhìn nhận họ là nước phiên thuộc, do vậy văn thư và lễ vật ngoại giao phát ra đều gọi là "chế chiếu" hoặc "tứ", công nhận về ngoại giao với các quốc gia này được gọi là "sách phong". Tại kinh thành, triều Tống thiết lập nhiều quán dịch tiếp đãi ngoại giao, là nơi tiếp đãi các sứ tiết quốc gia. Sứ tiết Liêu tại Đô Đình dịch, sứ tiết Tây Hạ tại Đô Đình Tây dịch, sứ tiết Cao Ly tại Đồng Văn quán, sứ tiết Hồi CốtVu Điền tại Lễ Tân viện, sứ tiết các quốc gia Tam Phật Tề, Chân Lạp, Đại Lý, Đại Thực tại Chiêm Vân quán hoặc Hoài Viễn dịch.[tham 5]

Triều Tống thi hành thể chế triều cống, tuy nhiên đặt trọng tâm vào lợi ích chính trị và lợi ích kinh tế, đó là "lai tắc bất cự, khứ tắc bất truy".Bản mẫu:备注 Chế độ triều cống của triều Tống hoàn thiện và phát triển, biểu hiện tại cơ cấu quản lý khá cố định, rõ ràng về quy định thời gian triều cống, chứng minh chính xác là cống sứ, chế độ hóa việc ban lại. Thời kỳ Nam Tống, còn đưa mậu dịch hải ngoại làm một nguồn ngân quỹ thu nhập tài chính của triều đình, đối với vật phẩm triểm cống không thu nhận toàn bộ mà chỉ tiếp nhận một bộ phận nhỏ trong đó, số còn lại dựa theo quy tắc mậu dịch để mua bán. Giảm thiểu cống vật vốn được miễn thuế, nghĩa là thuế thu gia tăng, điều này không chỉ có lợi cho qua lại ngoại giao, mà còn đem lại cho triều đình lợi ích thiết thực, về ngoại giao và kinh tế đều có lợi.

Những nhà ngoại giao có tiếng thời Tống có Phú Bật, Thẩm QuátHồng Hạo. Phú Bật trên phương diện ngoại giao nhiều lần lập công trước đại quân Liêu đến sát biên giới. Ông sử dụng lý lẽ để thắng Liêu sứ kiêu ngạo, buộc sứ giả của Liêu phải hành lễ tham bái, sau còn hai lần đi sứ sang Liêu, thắng trước yêu cầu cắt đất của Liêu. Phú Bật phân tích quan hệ ba bên Tống-Liêu-Tây Hạ, nhận định nguyên nhân Liêu và Tây Hạ cường thịnh là do đoạt được tài nguyên và nhân lực của Trung Quốc[chú thích 6], đồng thời lại hiệp trợ triều đình chia rẽ đồng minh Liêu-Hạ, khiến thế chân vạc Tống-Liêu-Hạ dần ổn định. Thẩm Quát với thân phận Hàn lâm thị độc học sĩ từng đi sứ sang Liêu để giao thiệp về sự việc phân định biên giới, sau khi vạch xong thì về Tống. Trên đường đi sứ sang Liêu, ông ghi chép lại địa hình cùng phong tục nhân tình của quốc gia này để hoàn thành "Sứ lỗ đồ sao", trình cho triều đình. Hồng Hạo đi sứ sang Kim trong lúc Nam Tống nguy nan, bị cầm tù trong 15 năm, song không chịu đầu hàng Kim. Hồng Hạo từng nhiều lần phái người bí mật truyền tin tức cho Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông tại Ngũ Quốc thành và Tống Cao Tông tại Lâm An. Sau khi về Nam Tống, Tống Cao Tông nói rằng "dù Tô Vũ cũng không vượt được"[tham 60]

Kinh tếSửa đổi

Tống Thái Tổ khi kiến quốc liền xác lập chế độ quyền tài sản tư hữu với thổ địa, mậu dịch tự do, đồng thời chọn chính sách không ngăn chặn thôn tính, kinh doanh tô điền trở thành hình thức kinh doanh thổ địa trọng yếu. Sau khi mãn hạn khế ước tô điền, điền nông có thể tự do quyết định đình chỉ hoặc kế tục.[tham 61] Tính lưu động nhân khẩu được tăng cường, kinh tế thương phẩm thành thị phát triển. Có học giả nhận định rằng thời Tống đã manh nha xuất hiện tư bản chủ nghĩa.[tham 62]

Kinh tế thời Tống phồn vinh, đạt trình độ chưa từng