Wikipedia

Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân chủng Phòng không – Không quân Nhân dân Việt Nam là một trong ba quân chủng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ không phận, mặt đất và biển đảo Việt Nam; cứu trợ, tìm kiếm cứu nạn và các nhiệm vụ khác. Quân chủng Phòng không – Không quân đảm nhiệm cả nhiệm vụ của bộ đội phòng không quốc gia và của không quân. Đây là lực lượng nòng cốt quản lý, bảo vệ vùng trời, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm quốc gia, bảo vệ nhân dân đồng thời tham gia bảo vệ các vùng biển đảo của Tổ quốc. Lực lượng Phòng không – Không quân có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ hoặc tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành. Quân chủng làm tham mưu cho Bộ Quốc phòng chỉ đạo xây dựng lực lượng phòng không lục quân và không quân thuộc các quân chủng, binh chủng, ngành khác. Lực lượng không quân vận tải ngoài nhiệm vụ vận chuyển phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu còn tham gia các hoạt động cứu trợ thiên tai và phát triển kinh tế.[1]

Quân chủng Phòng không-Không quân
Quân đội nhân dân Việt Nam
Vietnam People's Air Force insignia.png
Quốc gia Việt Nam
Thành lập22 tháng 10, 1963; 56 năm trước
Phân cấpQuân chủng (Nhóm 3)
Nhiệm vụBảo vệ vùng trời Việt Nam
Quy mô60.000 người
Bộ phận củaFlag of the People's Army of Vietnam.svg Bộ Quốc phòng
Bộ chỉ huySố 171, Trường Chinh, Hà Nội
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Chiến tranh biên giới phía Bắc
Thành tích
Chỉ huy
Chính ủyVietnam People's Air Force Lieutenant General Left.jpg Lâm Quang Đại
Tham mưu trưởngVietnam People's Air Force Major General Left.jpg Vũ Văn Kha
Chỉ huy nổi bậtVietnam People's Air Force Colonel General Left.png Phùng Thế Tài
Vietnam People's Air Force Colonel General Left.png Đào Đình Luyện
Vietnam People's Air Force Colonel General Left.png Phạm Thanh Ngân
Vietnam People's Air Force Lieutenant General Left.jpg Nguyễn Văn CốcVietnam People's Air Force Major General Left.jpg Ngô Huynh
Vietnam People's Air Force Senior Colonel Left.jpg Đặng Tính

Lịch sử hình thànhSửa đổi

Sự ra đời của đơn vị pháo phòng không đầu tiênSửa đổi

  • Cho đến tận năm 1950, dù phần nào có những lực lượng mạnh để thực hiện tiến công chiến lược, các đơn vị của Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn gần như bất lực trước các hoạt động trinh sát hoặc tấn công từ trên không của người Pháp. Ngày 9 tháng 3 năm 1949, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu để nghiên cứu các phương pháp chống trả.
  • Chỉ đến khi sau Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu có được những viện trợ quý giá từ chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó có những khẩu đội súng phòng không 12,7 mm. Lực lượng Không quân Pháp sau những bất ngờ đầu tiên, vẫn duy trì được ưu thế. Tuy nhiên, không lâu sau, tháng 5 năm 1951, người Việt đã cho thành lập Đại đội 612, đơn vị phòng không đầu tiên sử dụng 4 khẩu 37 mm. Ban Nghiên cứu Không quân được giải thể và hầu hết cán bộ của Ban được chuyển thuộc vào đơn vị phòng không đang được thành lập. Đến đầu năm 1953, họ đã có 8 tiểu đoàn phòng không, với 500 súng máy phòng không 12,7mm và 4 pháo cao xạ 37 mm.
  • Ngày 1 tháng 4 năm 1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhân danh Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã ký quyết định số 06/QĐ thành lập Trung đoàn Pháo cao xạ 367[2]. Đây là Trung đoàn pháo Cao xạ chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ban chỉ huy Trung đoàn đầu tiên gồm Lê Văn Tri – Trung đoàn trưởng, Nguyễn Quang Bích – Trung đoàn phó, Đoàn Phụng – Chính ủy, Ngô Từ Vân – Phó chính ủy. Ngày 1 tháng 4 cũng trở thành ngày truyền thống của lực lượng Phòng không Việt Nam.
  • Sau 8 tháng huấn luyện tại Trung Quốc, ngày 1 tháng 12 năm 1953, toàn bộ đội hình Trung đoàn cùng khí tài đã về nước và tập kết ở tây bắc thị xã Tuyên Quang. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 367 trong đội hình Đại đoàn Công Pháo 351 đã góp phần không nhỏ vào việc hạn chế sự tấn công từ trên không cũng như việc tiếp tế, chuyển quân của người Pháp.

Hình thành Bộ Tư lệnh phòng không và Cục Không quânSửa đổi

  • Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại đoàn Công pháo 351 được giải thể. Bộ Tổng tư lệnh ra Nghị định số 34/NĐA nâng cấp Trung đoàn Phòng không 367 lên thành Đại đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 367 trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh vào ngày 21 tháng 9 năm 1954. Hoàng Kiện làm Đại đoàn trưởng, Đoàn Phụng làm Chính ủy, Lê Văn Tri làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Đại đoàn được biên chế các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp và ba trung đoàn 681, 685, 689, trang bị pháo 88mm và 40mm. Theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu, để giữ bí mật lực lượng, các trung đoàn 681, 685, 689 được gọi là các tiểu đoàn 12, 13, 14[3]. Sau khi được tổ chức và huấn luyện ở Vai Cầy, Thái Nguyên, đêm ngày 16 tháng 12 năm 1955, Đại đoàn 367 hành quân về tiếp quản Hà Nội.
  • Bên cạnh đó, ngày 3 tháng 3 năm 1955, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 15/QĐA thành lập Ban nghiên cứu Sân bay trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng. Ngày này về sau được lấy làm ngày thành lập Không quân Nhân dân Việt Nam. Một năm sau đó, liên tục các đoàn cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban nghiên cứu sân bay được cử đi nước ngoài học tập. Ngày 26 tháng 1 năm 1956, Việt Nam tiếp nhận 5 máy bay đầu tiên do Trung Quốc viện trợ gồm 2 Li-2 và 3 Aero 45. Ngày 24 tháng 2 năm 1956, 2 đoàn học viên lái máy bay gồm Đoàn học máy bay tiêm kích MiG-17, gồm 50 học viên, do Phạm Dưng làm Đoàn trưởng và Đoàn học máy bay ném bom Tu-2, gồm 30 học viên, do Đào Đình Luyện làm Đoàn trưởng, học tại Trường Không quân số 2 ở Trường Xuân, Trung Quốc[4]. Trong Đoàn học Tu-2 có sáu học viên dẫn đường trên không (chuyên dẫn đường trên các loại máy bay và trực thăng) đầu tiên là: Đinh Huy Cận, Lê Thế Hưng, Nguyễn Văn Kính, Lê Liên, Lương Nhật Nguyễn và Nguyễn Cảnh Phiên.
  • Ngày 21 tháng 3 năm 1958, Trung đoàn ra đa cảnh giới đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập với tên gọi Trung đoàn đối không cần vụ 260[5]. Cùng ngày hôm đó, Bộ Quốc phòng cũng ra Nghị định 047/NĐ thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không trên cơ sở của Sư đoàn Phòng không 367 và Trung đoàn đối không cần vụ. Trong những năm sau đó, các trung đoàn pháo phòng không được thành lập, trang bị các loại pháo 57 mm và 100 mm. Bên cạnh đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ được đi học sử dụng vũ khí tên lửa phòng không tại các trung tâm huấn luyện quân sự của Liên XôLeningrad, Kiev, Odessa, Minsk... để chuẩn bị cho việc hình thành các đơn vị tên lửa phòng không sau này.
  • Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Bộ Quốc phòng ra nghị định thành lập Cục Không quân trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu trên cơ sở hợp nhất các tổ chức và lực lượng của Ban Nghiên cứu sân bay và Cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Đại tá Đặng Tính được bổ nhiệm làm Cục trưởng, Thượng tá Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy, Trung tá Hoàng Ngọc Diêu làm Tham mưu trưởng.
  • Sau một năm huấn luyện, ngày 1 tháng 3 năm 1959, Trung đoàn đối không cần vụ 260 bắt đầu phát sóng. Ngày này về sau được lấy làm ngày truyền thống của Bộ đội Ra-da.
  • Ngày 22 tháng 4 năm 1959, Cục Không quân ra quyết định thành lập Đại đội bay gồm: Ban chỉ huy đại đội, 3 Chủ nhiệm Dẫn đường, Thông tin và Máy (kỹ thuật hàng không); 1 trung đội bay Il-14, 1 trung đội bay Li-2, 1 trung đội bay An-2 và 1 trung đội máy gồm tất cả nhân viên kỹ thuật trên không (cơ giới) và mặt đất của các loại máy bay.
  • Ngày 1 tháng 5 năm 1959, Trung đoàn không quân vận tải đầu tiên, Trung đoàn 919, được thành lập. Đến ngày 20 tháng 8, Trung đoàn Huấn luyện không quân 910 cũng được thành lập.[6]
  • Ngày 1 tháng 5 năm 1960, 6 sĩ quan[7] và một chiến sĩ Lê Thành Chơn được triệu tập về Trường Văn hóa quân đội ở Lạng Sơn để ôn văn hóa và học tiếng Trung Quốc, chuẩn bị để đào tạo sĩ quan dẫn đường (hoa tiêu) trong lực lượng không quân. Cuối năm 1961, toàn bộ các học viên dẫn đường tốt nghiệp và về nước.
  • Ngày 30 tháng 5 năm 1963, Trung đoàn không quân tiêm kích 921, mật danh là Đoàn Sao Đỏ, được thành lập tại Trung Quốc, do Trung tá Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Đỗ Long làm Chính ủy, Thiếu tá Trần Mạnh làm Trung đoàn phó, Thiếu tá Trần Văn Thọ làm Tham mưu trưởng[8].
  • Ngày 10 tháng 7 năm 1963, một đơn vị đặc biệt mang phiên hiệu Trung đoàn 228B (trùng tên với trung đoàn cao xạ 228 để giữ bí mật) được thành lập. Về thực chất đây là đơn vị các cán bộ nòng cốt để xây dựng Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên.

Thành lập Quân chủngSửa đổi

  • Quân chủng Phòng không-Không quân Việt Nam được thành lập ngày 22 tháng 10 năm 1963 trên cơ sở sáp nhập Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân.
  • Ngày 7 tháng 1 năm 1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 03/QĐ-QP thành lập Trung đoàn cao xạ 236 ("Đoàn Sông Đà"). Thực chất, đây là trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên thuộc Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân. Các cán bộ của trung đoàn đều từ đoàn 228B chuyển sang.
  • Ngày 6 tháng 8 năm 1964, trung đoàn tiêm kích 921 trở về nước. sau 1 năm huấn luyện, ngày 3 tháng 4 năm 1965, trung đoàn xuất kích đánh thắng trận đầu, bắn rơi 2 máy bay F-8 của Hải quân Mỹ. Ngày hôm sau, tiếp tục bắn hạ thêm 2 máy bay F-105 của Không quân Mỹ.
  • Ngày 22 tháng 4 năm 1965, lập Trung đoàn tên lửa 238 ("Đoàn Hạ Long") được thành lập. Ngày 19 tháng 5 năm 1965, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội (từ tháng 3 năm 1967 đổi là Sư đoàn phòng không 361) và Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng (từ tháng 3 năm 1967 đổi là Sư đoàn phòng không 363).
  • Ngày 4 tháng 8 năm 1965, Trung đoàn không quân tiêm kích thứ 2 là Trung đoàn 923, mật danh Đoàn Yên Thế, được thành lập, gồm 2 đại đội 17 phi công MiG-17, do Trung tá Nguyễn Phúc Trạch làm Trung đoàn trưởng, Trung tá Nguyễn Ngọc Phiếu làm Chính ủy. Không quân Việt Nam được trang bị thêm một số máy bay MiG-17F có bộ phận tăng lực.
  • Ngày 13 tháng 11 năm 1965, thành lập Trung đoàn tên lửa 257 ("Đoàn Cờ Đỏ"). Nay thuộc Sư đoàn phòng không 361.
  • Ngày 20 tháng 4 năm 1966, thành lập Trung đoàn ra đa 293, thuộc sư đoàn phòng không 361.
  • Ngày 30 tháng 5 năm 1966, thành lập 3 trung đoàn tên lửa phòng không 261 ("Đoàn Thành Loa"), 263, 267, thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng. Nay thuộc Sư đoàn phòng không 367.
  • Ngày 15 tháng 6 năm 1966, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu 4.
  • Ngày 21 tháng 6 năm 1966, thành lập Sư đoàn phòng không 367. Tiền thân là trung đoàn pháo cao xạ 367, thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1953, chuyển thành Đại đoàn pháo cao xạ 367 ngày 21 tháng 9 năm 1954, trước đây thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh, sau này tách ra đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Phòng không (1958).
  • Ngày 23 tháng 6 năm 1966, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Bắc, đến 16 tháng 3 năm 1967 đổi tên thành Sư đoàn phòng không 365.
  • Ngày 23 tháng 3 năm 1967, thành lập các Binh chủng Ra-đa, Tên lửa Phòng không và Không quân.
 
Mig-21 trên đường bay
  • Ngày 24 tháng 3 năm 1967, Sư đoàn không quân Thăng Long (phiên hiệu là Sư đoàn 371) tức Bộ tư lệnh không quân được thành lập, gồm các trung đoàn 921, 923, 919 và đoàn bay Z. Đây là Sư đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Tháng 1 năm 1968, thành lập Sư đoàn phòng không 375 thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 4.
 
Sư đoàn Phòng không 375, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng.
  • Ngày 27 tháng 5 năm 1968, thành lập Sư đoàn phòng không 377.
  • Tháng 3 năm 1972, thành lập Trung đoàn không quân thứ 3, Trung đoàn 927 ("Đoàn Lam Sơn").
  • Ngày 29 tháng 3 năm 1973, thành lập Sư đoàn phòng không 673 tại Bình - Trị - Thiên.

Tách - nhập Quân chủngSửa đổi

  • Trong thời gian từ 16 tháng 5 năm 1977 đến 3 tháng 3 năm 1999, Quân chủng Phòng không-Không quân tách ra thành hai Quân chủng Phòng không và Không quân riêng biệt. Việc chia tách này phần nào áp đặt theo mô hình tổ chức của Liên Xô, vốn có lãnh thổ rộng lớn và tiềm lực quân sự mạnh, không phù hợp với đặc thù Việt Nam, có lãnh thổ nhỏ hẹp và tiềm lực quân sự yếu. Chính vì vậy, sau khi Liên Xô tan rã, mô hình 2 quân chủng cũng không còn phù hợp, cần tinh giản và gọn nhẹ trong bộ máy quản lý. Từ tháng 3 năm 1999, lại sáp nhập lại thành Quân chủng Phòng không - Không quân.

Lãnh đạo hiện naySửa đổi

Tham mưu trưởngː Thiếu tướng Vũ Văn Kha

Phụ trách công tác Hậu cần: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Chí

Phụ trách công tác kỹ thuật: Thiếu tướng Bùi Anh Chung

Phụ trách công tác không quân: Thiếu tướng Phạm Trường Sơn

Phụ trách công tác phòng không: Thiếu tướng Nguyễn Quang Tuyến

Phụ trách công tác kinh tế, đối ngoại QP:Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiền

Tổ chức ĐảngSửa đổi

Quân chủng Phòng không – Không quân được tổ chức thành Bộ tư lệnh Quân chủng, các đơn vị chiến đấu; khối bảo đảm; khối nhà trường và các đơn vị kinh tế. Bộ Tư lệnh quân chủng có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ và Phó Chính uỷ, các cơ Quyê đảm nhiệm các mặt công tác quân sự; công tác đảng, công tác chính trị; kỹ thuật; hậu cần và các đơn vị trực thuộc. Quân chủng có các sư đoàn không quân, sư đoàn phòng không và một số đơn vị không quân trực thuộc là các đơn vị chiến đấu chủ yếu.[1]

Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Quân chủng PK – KQ bao gồm:

  • Đảng bộ Quân chủng PK – KQ là cao nhất.
  • Đảng bộ các Cục chuyên ngành, Sư đoàn thuộc Quân chủng PK – KQ (tương đương cấp Sư đoàn)
  • Đảng bộ các đơn vị cơ sở trực thuộc Cục chuyên ngành, Sư đoàn (tương đương cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn)
  • Chi bộ các bộ phận thuộc đơn vị cơ sở (tương đương cấp Đại đội)

Tổ chức chính quyềnSửa đổi

TTĐơn vịNgày thành lậpTương đươngĐịa chỉGhi chú
1Văn phòng Quân chủng10/9/1974

(&0000000000000045.00000045 năm, &0000000000000209.000000209 ngày)

Sư đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
2Thanh tra Quân chủngSư đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
3Ủy ban kiểm tra ĐảngSư đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
4Phòng Tài chínhSư đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
5Bộ Tham mưuQuân đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
6Cục Chính trịQuân đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
7Cục Hậu cầnSư đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
8Cục Kỹ thuậtSư đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
9Cục Phòng không Lục quânQuân đoàn‎Số 172, ‎Trường Chinh‎, ‎Hà Nội
10Sư đoàn Phòng không 361[9]
(Đoàn phòng không Hà Nội)
19/5/1965

(&0000000000000054.00000054 năm, &0000000000000323.000000323 ngày)

Sư đoàn63A Lê Văn Lương, P. Trung Hòa, Q. Cầu Giấy, Tp. Hà Nội. Phụ trách khu vực Hà Nội.
11Sư đoàn Phòng không 363
(Đoàn phòng không Hải Phòng)
19/5/1965

(&0000000000000054.00000054 năm, &0000000000000323.000000323 ngày)

Sư đoànTrần Nhân Tông, Nam Sơn, Kiến An, Hải Phòng. Phụ trách khu vực Hải Phòng và vùng Đồng Bằng Sông Hồng
12Sư đoàn Phòng không 365
(Đoàn phòng không Bắc Thái)
23/6/1966

(&0000000000000053.00000053 năm, &0000000000000288.000000288 ngày)

Sư đoànHương Lạc, Lạng Giang, Bắc Giang. Phụ trách khu vực Đông Bắc Bộ
13Sư đoàn Phòng không 367[10]
(Đoàn phòng không thành phố Hồ Chí Minh)
21/9/1954

(&0000000000000065.00000065 năm, &0000000000000198.000000198 ngày)

Sư đoànSố 19A Cộng Hòa, Phường 12, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Phụ trách khu vực TP Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ
14Sư đoàn Phòng không 375[11]
(Đoàn phòng không Đà Nẵng)
7/2/1968

(&0000000000000052.00000052 năm, &0000000000000059.00000059 ngày)

Sư đoàn224 Lê Trọng Tấn, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Phụ trách khu vực Đà Nẵng và vùng Trung Trung Bộ
15Sư đoàn Phòng không 377[12]
(Đoàn phòng không Khánh Hòa)
27/5/1968

(&0000000000000051.00000051 năm, &0000000000000315.000000315 ngày)

Sư đoànĐường Trần Nguyên Hãn, P. Cam Phúc Bắc, TP. Cam Ranh, Khánh Hòa. Phụ trách khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
16Sư đoàn Không quân 371[13]
(Đoàn Không quân Thăng Long)
24/3/1967

(&0000000000000053.00000053 năm, &0000000000000013.00000013 ngày)

Sư đoànXã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Phụ trách không phận Bắc Bộ
17Sư đoàn Không quân 372
(Đoàn Không quân Hải Vân)
30/10/1975

(&0000000000000044.00000044 năm, &0000000000000159.000000159 ngày)

Sư đoànSố 81 Duy Tân, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng. Phụ trách không phận Miền Trung và Tây Nguyên
18Sư đoàn Không quân 370[14]
(Đoàn Không quân Biên Hòa)
30/10/1975

(&0000000000000044.00000044 năm, &0000000000000159.000000159 ngày)

Sư đoàn18D Cộng Hòa, Phường 4, Quận Tân Bình, Thành phố HCM. Phụ trách không phận Nam Bộ
19Lữ đoàn Không quân 918
(Đoàn Không quân Hồng Hà).
Lữ đoànQuận Long Biên, TP Hà Nội
20Lữ đoàn Công binh 28
(Đoàn Công binh 19/5)
Lữ đoànPhường Minh Khai, quân Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội
21Lữ đoàn thông tin 26Lữ đoànngõ 179,Trường Chinh,Thanh Xuân,Hà Nội
22Học viện Phòng không - Không quânQuân đoànKim Sơn, Sơn Tây, Hà Nội
23Trường Sĩ quan Không quânQuân đoànCổng 3, đường Biệt Thự Nha Trang, Khánh Hòa
24Viện Kỹ thuật Phòng không- Không quân[15]Sư đoàn166 Hoàng Văn Thái, phường Khương Mai,, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.
25Viện Y học Phòng không - Không quân[16]Sư đoàn225 Trường Chinh, Khương Thượng, Hà Nội
26Tổng công ty Xây dựng Công trình Hàng không ACC[17]Sư đoànSố 178, đường Trường Chinh, Phường Khương Thượng, Quận Đống Đa, Hà Nội

Số 14 đường Lam Sơn, phường 2, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh

27Công ty Thiết kế và Tư vấn xây dựng công trình hàng không (ADCC)Sư đoàn180 - Trường Chinh - Đống Đa -Hà Nội.

Tư lệnh qua các thời kỳSửa đổi

TTHọ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệmCấp bậc tại nhiệmChức vụ cuối cùngGhi chú
Quân chủng Phòng không (1958-1962)
1Hoàng Kiện
(1921-2000)
1958-1962Đại tá (1958)Thiếu tướng (1977), Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng (1981-1986)
Quân chủng Phòng không-Không quân (1962-1977)
1Phùng Thế Tài
(1920-2014)
1962-1967Thượng tá (1958), Đại tá (1967)Thượng tướng (1986), Phó Tổng Tham mưu trưởng (1967-1987)
2Đặng Tính
(1920-1973)
1967-1969Đại tá (1958)Chính ủy Binh đoàn Trường Sơn (1971-1973)
3Lê Văn Tri
(1920-2006)
1969-1977Đại tá (1969), Thiếu tướng (1974)Trung tướng (1982), Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (1977-1987)
Quân chủng Không quân (1977-1999)
1Đào Đình Luyện
(1929-1999)
1977-1986Thiếu tướng (1977), Trung tướng (1983)Thượng tướng (1988), Tổng Tham mưu trưởng (1991-1995)
2Trần Hanh
(1932-)
1986-1989Thiếu tướng (1984)Trung tướng (1989), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1996-2000)
3Phạm Thanh Ngân
(1939-)
1989-1996Thiếu tướng (1988), Trung tướng (1992)Thượng tướng (1999), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1998-2001)
4Nguyễn Văn Cốc
(1942-)
1996-1997Thiếu tướng (1990)Trung tướng (1999), Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng (1998-2002)
5Nguyễn Đức Soát
(1946-)
1997-2000Thiếu tướng (1994), Trung tướng (1999)Phó Tổng Tham mưu trưởng
Quân chủng Phòng không (1977-1999)
1Hoàng Văn Khánh
(1923-2002)
1977-1983Đại tá, Thiếu tướng (1979)Trung tướng (1986), Phái viên Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng (1983-1988)
2Trần Nhẫn
(1927-)
1983-1995Thiếu tướng (1983), Trung tướng (1989)
3Ngô Huynh
(1934-1999)
1995-1999Thiếu tướng (1990)
Quân chủng Phòng không-Không quân (1999-nay)
1Nguyễn Đức Soát
(1946-)
1999-2002Trung tướng (1999)Phó Tổng Tham mưu trưởng
2Nguyễn Văn Thân
(1945-)
2002-2006Thiếu tướng, Trung tướng (2003)
3Lê Hữu Đức
(1955-)
2007-2010Trung tướng (2007)Thượng tướng (2011), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (2010-2016)
4Phương Minh Hòa
(1955-)
2010-6.2015Trung tướng (2011)Thượng tướng (2015), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (2015-2016)
5Phương Minh Hòa
(1955-)
2010-6.2015Trung tướng (2011)Thượng tướng (2015), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (2015-2016)

Chính ủy qua các thời kỳSửa đổi

TTHọ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệmCấp bậc tại nhiệmChức vụ cuối cùngGhi chú
Quân chủng Phòng không (1958-1962)
1Đoàn Phụng1958-1962Đại tá
Quân chủng Phòng không-Không quân (1962-1977)
1Đặng Tính
(1920-1973)
1962-1971Đại táChính ủy Binh đoàn Trường Sơn (1971-1973)
2Hoàng Phương
(1924-2001)
1971-1977Thiếu tướng (1974)
Trung tướng (1982)
Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1983-1988)
Quân chủng Không quân (1977-1999)
1Đào Đình Luyện
(1929-1999)
1977-1980Trung tướng (1983)
Thượng tướng (1988)
Tổng Tham mưu trưởng (1991-1995)
2Chu Duy Kính

(1930-)

1980-1987Thiếu tướng (1984)
Trung tướng (1989)
Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô(1989-1997)
3Phạm Thanh Ngân
(1939-)
1987-1989Trung tướng (1992)
Thượng tướng (1999)
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1998-2001)
4Phạm Tuân
(1947-)
1989-1996Thiếu tướng (1989)
Trung tướng (1999)
Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (2000-2008)
5Hán Vĩnh Tưởng
(1945-)
1996-1999Thiếu tướng (1994)
Trung tướng (2002)
Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng Không-Không Quân
Quân chủng Phòng không (1977-1999)
1Nguyễn Xuân Mậu
(1922-)
1977-1980Thiếu tướng (1979)
Trung tướng (1986)
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương
2Đinh Phúc Hải
(1925-1997)
1980-1989Thiếu tướng (1985)Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng Không
3Vũ Trọng Cảnh
(1929-2016)
1989-1992Thiếu tướng (1984)
Trung tướng (1990)
Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không
4Nguyễn Văn Phiệt
(1938-)
1992-1999Thiếu tướng (1990)
Trung tướng (1999)
Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không
Quân chủng Phòng không-Không quân (1999-nay)
1Nguyễn Văn Phiệt
(1938-)
1999-2001Trung tướng (1999)Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân
2Hán Vĩnh Tưởng
(1945-)
2001-12.2004Trung tướng (2002)Chính ủy Quân chủng
3Nguyễn Mạnh Hải
(1948-)
12.2004-10.2005Thiếu tướng (2004)Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh Chính trị
4Phương Minh Hòa
(1955-)
2005-2010Trung tướng (2008)
Thượng tướng (2015)
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (2015-2016)
5Nguyễn Văn Thanh
(1956-)
2011-2016Thiếu tướng (2009)
Trung tướng (2012)
6Lâm Quang Đại
(1962-)
2016-nayThiếu tướng (2014)
Trung tướng (2019)

Tham mưu trưởng qua các thời kỳSửa đổi

Phó Tư lệnh qua các thời kỳSửa đổi

Phó Chính ủy qua các thời kỳSửa đổi

Các tướng lĩnh khácSửa đổi

  • Phạm Liêm, Thiếu tướng (1985), nguyên Cục phó Cục Chính trị, QCPK-KQ
  • Trần Nam Xuân, Thiếu tướng (2007), Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học quân sự, nguyên Giám đốc Học viện PK - KQ
  • Lê Văn Ngọc, Thiếu tướng, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ
  • Nguyễn Đức Côn, Thiếu tướng (2005) nguyên Phó Cục trưởng Cục Chính trị Quân chủng PK-KQ
  • Phạm Thanh Liêm, Thiếu tướng, nguyên Cục trưởng Cục Chính trị Quân chủng PK-KQ[37](2013-2017(
  • Nguyễn Viết Xuân, Thiếu tướng (2013), Phó Cục trưởng Cục Chính trị Quân chủng PK-KQ[38], hiện là Phó Chính ủy Tổng cục CNQP
  • Phan Thanh Giảng, Thiếu tướng, Phó Cục trưởng Cục Chính trị Quân chủng PK-KQ[39]
  • Trần Ngọc Quyến, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Chính trị Quân chủng PK-KQ (2017 - nay)
  • Bùi Duy Hùng, Thiếu tướng, Chính ủy Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ, hiện là Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kiểm tra QUTW

Thành tíchSửa đổi

  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ cho Đề tài Chống nhiễu của máy bay Mỹ.
  • Anh hùng Lực lượng Vũ trang năm 2010.
  • Huân chương Sao vàng (2013)[40]

Quân hàm PKKQSửa đổi

Sĩ quan
Cấp hiệu trên cầu vai
Cấp bậc Quân hàmThượng tướngTrung tướngThiếu tướngĐại táThượng táTrung táThiếu táĐại úyThượng úyTrung úyThiếu úy
Học viênHạ sĩ quanChiến sĩ
Cấp hiệu trên cầu vai
Cấp bậc Quân hàmHọc viên Sĩ quanThượng sĩTrung sĩHạ sĩBinh nhấtBinh nhì

Trang bịSửa đổi

Máy baySửa đổi

ẢnhChủng loạiNguồn gốcLoạiPhiên bảnSố lượng hoạt độngChú thích
Máy bay tiêm kích
Sukhoi Su-30MK2  NgaMáy bay tiêm kích đa chức năngSu-30MK2V
35[41]Một chiếc Su-30MK2 số hiệu 8585 đã rơi ngày 14/6/2016 khi đang bay huấn luyện nhiệm vụ chặn kích trên biển, 1 phi công thiệt mạng, 1 phi công an toàn
Sukhoi Su-27  Liên XôMáy bay tiêm kíchSu-27SK/UBK/PU11
Máy bay cường kích
 Sukhoi Su-22  Liên XôMáy bay tấn công mặt đấtSu-2264Đã được hiện đại hóa lên chuẩn M3/M4
Máy bay huấn luyện
Aero L-39 Albatros  Tiệp KhắcMáy bay phản lực (huấn luyện)L-39C26
Yakovlev Yak-52  Liên XôMáy bay cánh quạt (huấn luyện)Yak-5216
Máy bay vận tải/ tuần tra biển
An-26 Curl  Liên XôMáy bay vận tảiAn-2612
An-2 Colt  Liên XôMáy bay vận tải cánh quạt sử dụng đường băng ngắnAn-28Hiện chỉ được dùng do thám, chụp ảnh, phục vụ chống bão, thiên tai
PZL M-28  Ba LanMáy bay vận tảiPZL M-28BR1 Bryza1Phiên bản tuần tra trinh sát và mở rộng với tầm bay cao. Một chiếc bị rơi năm 2005.
CASA CN-295  Tây Ban NhaMáy bay vận tảiCN-2953Chiếc cuối cùng đã được Airbus chuyển giao tới Việt Nam vào đầu tháng 5 năm 2015.[42]
Trực thăng
Mi-8 Hip  Liên XôTrực thăng đa chức năngMil Mi-869
Mi-17 Hip-H  Liên XôTrực thăng đa chức năngTổng cộng
Mil Mi-17SH
Mil Mi-172
45
27
18
Mi 17SH: vũ trang chiến đấu, Mi-172: vận tải, đổ bộ
Bell UH-1 Iroquois  Hoa KỳTrực thăng đa chức năngUH-1H14
Máy bay lưỡng dụng
 Eurocopter Ecureuil  PhápTrực thăng đa chức năng hạng nhẹAS-350 B35Chủ yếu phục vụ huấn luyện phi công trực thăng.
Aérospatiale Super Puma  PhápTrực thăng dân dụngAS-332L26
 Aérospatiale Puma  PhápTrực thăng dân dụngSA-330J10
Aérospatiale Puma  PhápTrực thăng dân dụngEC-130B41
Aérospatiale Puma  PhápTrực thăng dân dụngEC-155B12
Máy bay trinh sát do thám không người lái
VT Patrol  Việt NamMáy bay trinh sát không người láiVT Patrol
HS-6L  Việt NamMáy bay trinh sát không người lái tầm xaHS-6L
Orbiter 2  IsraelMáy bay trinh sát không người lái.Orbiter 2

Tên lửa - Pháo phòng khôngSửa đổi

ẢnhChủng loạiNguồn gốcLoạiPhiên bảnSố lượng hoạt độngChú thích
Tên lửa phòng không
SA-20 Gargoyle  Liên XôHệ thống tên lửa đối không cơ động chiến lược tầm xaS-300PMU-12 hệ thống[43]Có ý định mua thêm một số hệ thống S-300PMU2 và cả S-400[44][45]
SA-6 Gainful  Liên XôHệ thống tên lửa đối không cơ động tầm trung2K12 Kub8-12 tổ hợp
SA-13 Gopher  Liên XôHệ thống tên lửa đối không cơ động tầm thấp9K35 Strela-10
SA-9 Gaskin  Liên XôHệ thống tên lửa đối không cơ động tầm thấp9K31 Strela-1
SPYDER  IsraelHệ thống tên lửa đối không cơ động hỗn hợpSPYDER - MR, SR6 tổ hợp, 250 tên lửa
SA-3 Goa  Liên XôHệ thống tên lửa đối không cố định tầm caoPechora-2TMÍt nhất 30 hệ thốngĐã nâng cấp một số hệ thống lên phiên bản S-125TM
SA-2 Guideline  Liên XôHệ thống tên lửa đối không cố định tầm caoSA-2M3 Volga-2Ít nhất 30 hệ thống
Pháo phòng không tự hành
ZSU-23-4 Shilka  Liên XôPháo phòng không tự hànhZSU-23-4 Shilka100
Pháo phòng không xe kéo
S-60 AZP 57 mm  Liên XôPháo phòng không tầm trungS-60
61-K 37 mm  Liên XôPháo phòng không tầm trung61-K 37 mm
ZU-23-2  Liên XôPháo phòng không tự hànhZSU-23-2

Lực lượng đổ bộ đường khôngSửa đổi

ẢnhChủng loạiNguồn gốcLoạiPhiên bảnSố lượng hoạt độngChú thích
Pháo tự hành
ASU-85  Liên XôPháo tự hành đổ bộ đường khôngASU-85M
Súng bộ binh
AKS  Liên XôSúng trường xung kích
CAR-15  Hoa KỳSúng trường xung kích
M-18Việt NamSúng trường xung kích
RPK  Liên XôSúng máy hạng nhẹ
RPD  Liên XôSúng máy hạng nhẹ
RPK-74  Liên XôSúng máy hạng nhẹ
SVD  Liên XôSúng bắn tỉa
SVU  Liên XôSúng bắn tên

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/vZTLcqMwFES_JR8whXjKXor3G4MQBjYubIMDGPAYx8J8_ZBUZpFFks1MpNUtdde53QsxOZMyeV_c61Nxq4e-OL_OubTTkR-tZBYBALAILB45xF0vA4KLIFsE4JODwEd_AM3V4lcUkU94Fsjg3a8YyBSgC8DKNRYAMkm0DnkeIP47_pZJm4z31RZRzcLVVJjmXEg7rhEcHw63GNe1UG3tVtrEs1qJ7agFwXSPz3U-6pi7OupFKmUnaH3qvoBQFKRS6Q_WyHO6V_8-XRq8A0iPZlVMU-P2PKtjlk8gscsD2faw8uXR5M6Qp-cjSzYdpu95vgj8bZ78TfJVI2-Cryr_CDFQogPLxgApUOQUATK-OXQlky0y-OkuocjETAqEHW4eF2tu56iZQ-rD3PNm2wUNoTfSEJ-0s7cOWOx6lHUT70YerKdanKfiCfv7zTGJiIyUTNcz-g1QEn4YGML_DTQC87X52BZxEHJAAD9dqfTPgTaTn87Dfvkakji7uNpgUQ2lG9o521AoNl6ltZIitChxEtkOL_T4cr3qz-xaGvugN6rOPuw1X-H223QgXN_LLu47vTyJMYGWUWUro5pCcx9ANXCnhwZrKgw7_OtKo_Wklo9N6V5H_t61hXMI-bTNjKx-aSLxN4f949nTuVZ2k0G5krS_JT6L2ccwCPpIUg5yqY2enphLR8jdlSKTsqu_ly4PfwCE9ZA8/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/
  2. ^ Trung đoàn có 6 Tiểu đoàn pháo Cao xạ 37mm, nên được lấy phiên hiệu là 367.
  3. ^ Đến năm 1958, trung đoàn 681 đổi tên thành trung đoàn 220, trung đoàn 685 đổi tên thành trung đoàn 250, trung đoàn 689 đổi thành trung đoàn 240.
  4. ^ Về sau, Đào Đình Luyện chuyển sang làm Đoàn trưởng Đoàn học máy bay MiG-17 và Phạm Dưng làm Đoàn trưởng Đoàn học máy bay Tu-2
  5. ^ Đến tháng 9 năm 1960, Trung đoàn đổi phiên hiệu thành Trung đoàn ra đa tình báo 300, từ tháng 5 năm 1961 mang tên Trung đoàn ra đa 291 (còn gọi là "Đoàn Ba Bể"). Nay thuộc Sư đoàn phòng không 365.
  6. ^ Tuy Trung đoàn 919 tổ chức lễ thành lập ngày 1 tháng 5 nhưng tới ngày 30 tháng 9 năm 1959, Bộ Quốc phòng mới chính thức ra nghị định số 429/NĐ thành lập cả Trung đoàn 919 và 910.
  7. ^ Gồm Nguyễn Văn Chuyên, Trần Quang Kính, Bùi Quang Liên, Đào Ngọc Ngư, Trần Hán Thức và Trần Kim Tuấn.
  8. ^ Theo Quyết định số 18/QĐ, thay mặt Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trung tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký. Tuy nhiên, mãi đến ngày 6 tháng 8 năm 1964, trung đoàn mới trở về nước.
  9. ^ “Bộ Quốc phòng kiểm tra tại Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân”. 
  10. ^ “Sư đoàn 367 diễn tập phòng không”. 
  11. ^ “Đón Tết với Sư đoàn tên lửa 375 bảo vệ không phận Đà Nẵng”. 
  12. ^ “Sư đoàn phòng không 377 hoàn thành huấn luyện chiến sĩ mới đợt 1 năm 2014”. 
  13. ^ “Cháy gần nơi đóng quân của sư đoàn không quân 371”. 
  14. ^ “Chính ủy Sư đoàn 370 nói về nguyên nhân trực thăng rơi”. 
  15. ^ “Máy bay không người lái thương hiệu Việt Nam”. 
  16. ^ “Xây dựng Viện Y học Hàng không trở thành một trung tâm y tế tiên tiến, hiện đại của quân đội”. 
  17. ^ “Công ty Cổ phần ACC - 243”. 
  18. ^ “Lễ công bố thành lập Trung đoàn Tên lửa 93”. 
  19. ^ “Quân chủng PK-KQ kiểm tra công tác chuẩn bị Lễ mít tinh hưởng ứng "Tháng hành động về ATVSLĐ-PCCN lần thứ nhất, năm 2017". 
  20. ^ “Bổ nhiệm năm 2007”. 
  21. ^ “Đại đội 3, Bộ Tham mưu Quân chủng PK-KQ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. 
  22. ^ “Ủng hộ 105 triệu đồng tới người nhà chiến sĩ vụ rơi máy bay”. 
  23. ^ “Phân đội tên lửa phòng không C-125-2TM sãn sàng chiến đấu”. 
  24. ^ “Máy bay Su 22 rơi: Tăng cường thiết bị tìm kiếm 2 phi công mất tích”. 
  25. ^ “Khai mạc Hội thi lái xe an toàn năm 2012”. 
  26. ^ “Nhà máy A29 kỷ niệm 20 năm ngày thành lập”. 
  27. ^ "Bệnh viện"... Z.119”. 
  28. ^ “CNVC-LĐQP Quân chủng Phòng không – Không quân: 1.000 sản phẩm, đề tài, tham dự Hội thi “Sản phẩm, đề tài sáng tạo””. 
  29. ^ "Hoa lửa" trên thao trường”. 
  30. ^ “Lãnh đạo tỉnh Bắc Giang thăm, tặng quà Tết”. 
  31. ^ “Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân chủng kiểm tra và chúc tết Học viện PK-KQ”. 
  32. ^ “Quân chủng PK-KQ tổ chức Diễn tập chiến thuật Kíp chiến đấu Phân đội hỏa lực Tên lửa phòng không C-125-2TM”. 
  33. ^ “Quyết định bổ nhiệm, thăng quân hàm đối với một số cán bộ cấp cao”. 
  34. ^ “PHÚ XUYÊN THỜI NAY, MỘT HUYỆN CÓ 9 VỊ TƯỚNG - NGUYỄN ĐỨC KIỆT”. 
  35. ^ “Trung đoàn 263 (Sư đoàn 367) phát động đợt thi đua cao điểm”. 
  36. ^ “Đoàn đại biểu Quân chủng Phòng không - Không quân báo công dâng Bác”. 
  37. ^ “Quân chủng tập huấn nghiệp vụ công tác cán bộ năm 2014”. 
  38. ^ “45 NĂM CHẶNG ĐƯỜNG VẺ VANG VIỆN Y HỌC PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN”. 
  39. ^ “Bác Hồ - Cội nguồn sức mạnh của Bộ đội Phòng không - Không quân”. 
  40. ^ “Truyền thống 50 năm Quân chủng phòng không- không quân”. 
  41. ^ “Mariusz Wojciechowski”. 
  42. ^ “Airbus giao vận tải cơ C-295M cuối cùng cho Việt Nam”. http://baodatviet.vn/anh-nong/airbus-giao-van-tai-co-c-295m-cuoi-cung-cho-viet-nam-3266300/?p=8. 
  43. ^ “Asia Times - "Russian missiles to guard sky over Vietnam". Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2008. 
  44. ^ http://bmpd.livejournal.com/2012/07/11/
  45. ^ Việt Nam có thể mua S-400

Liên kết ngoàiSửa đổi