Tiếng Việt

ngôn ngữ của người Việt và ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam

Tiếng Việt (chữ Nôm: (tiếng) (Việt)), cũng được gọi là tiếng Việt Nam (chữ Nôm: 㗂越南)[5], tiếng Kinh (chữ Nôm: 㗂京) hay Việt ngữ (chữ Nôm: 越語) là ngôn ngữ của người Việt và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn 4 triệu Việt kiều. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam, và được công nhận là một ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc.

Tiếng Việt

Tiếng Việt / 㗂越
Phát âmtiəŋ₃₅ vḭət₃₁ (miền Bắc)
tiəŋ₃₅ jḭək₃₁ (miền Nam)
Sử dụng tại Việt Nam

 Cộng hòa Séc (dân tộc thiểu số)

Và các nước và vùng lãnh thổ có Việt kiều sinh sống như:
Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Campuchia Campuchia
Lào Lào
Pháp Pháp
Úc Úc
Canada Canada
Đài Loan Đài Loan
Nhật Bản Nhật Bản
Hàn Quốc Hàn Quốc
Trung Quốc Trung Quốc
Nga Nga
Tổng số người nói100 triệu người trở lên
Hạng13–17 (như tiếng mẹ đẻ); tương đương với tiếng Triều Tiên, Telugu, MarathiTamil
Phân loạiHệ Nam Á[1]
Hệ chữ viếtChữ Quốc ngữ (Chữ Latinh)
Hệ thống chữ nổi tiếng Việt
Chữ HánChữ Nôm
(hiện tại người Kinh ở Trung Quốc sử dụng phổ biến)
Địa vị chính thức
Ngôn ngữ chính thức tại
Việt Nam [2]
 Cộng hòa Séc (ngôn ngữ dân tộc thiểu số)[3]
Mã ngôn ngữ
ISO 639-1vi
ISO 639-2vie
ISO 639-3vie
Glottologviet1252[4]
Phân bố tiếng Việt tại các nước trên thế giới

Tiếng Việt được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, tại Chương I Điều 5 Mục 3, là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam [6]. Tuy nhiên hiện chưa có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước quy định giọng chuẩnquốc tự của tiếng Việt [7]. Hiện nay phần lớn các văn bản trong nước được viết theo những "Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt" áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục nêu tại Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 [8] do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc trong mọi lĩnh vực xã hội hướng tới việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt.

Mặc dù tiếng Việt có một lượng rất lớn từ vựng được chuyển hoá từ tiếng Hán thành âm Hán Việttừ Hán Việt, nhưng dựa trên ngữ pháp và vốn từ căn bản, ngôn ngữ này được xếp vào ngữ hệ Nam Á và có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại). Hiện tại ở Việt Nam, tiếng Việt chủ yếu sử dụng chữ Quốc ngữ (chữ Latinh) để viết, còn chữ Hánchữ Nôm biểu ý được dùng chủ yếu bởi cộng đồng người Kinh ở Trung Quốc[9]. Tại Việt Nam hiếm khi sử dụng chữ Hán và chữ Nôm, chỉ đôi khi được dùng trong các hoạt động liên quan tới văn hóa truyền thống như viết thư pháp, viết sớ hay dựng câu đối.

Cũng cần lưu ý tránh nhầm lẫn với Việt ngữ (粵語) hay tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ được sử dụng ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây) cũng như ở Hồng KôngMa Cao.

Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đặt mã ngôn ngữ hai chữ cái cho tiếng Việt là "vi" (tiêu chuẩn ISO 639-1) và đặt mã ngôn ngữ ba chữ cái cho tiếng Việt là "vie" (tiêu chuẩn ISO 639-2) [10][11][12].

Phả hệ ngôn ngữ của tiếng Việt

Với những cơ sở khoa học gần đây được đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận, tiếng Việt có quan hệ gần gũi với tiếng Mường, và được xếp vào Ngữ chi Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer trong ngữ hệ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay.[cần dẫn nguồn]

 
Từ vựng tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng Khmer, tiếng Chăm, tiếng Lào, tiếng Môn, tiếng Pali,... trong sách của John Crawfurd xuất bản năm 1828.

Những ngôn ngữ này có chung một số từ vựng căn bản. Thí dụ, từ tay trong tiếng Việt tương đương trong tiếng Mường là thay, trong tiếng Khmerđay và trong tiếng Môntai.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử

Tiếng Việt là ngôn ngữ có nguồn gốc bản địa, xuất thân từ nền văn minh nông nghiệp, tại nơi mà ngày nay là khu vực phía bắc lưu vực sông Hồngsông Mã của Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Theo A. G. Haudricourt giải thích từ năm 1954, nhóm ngôn ngữ Việt-Mường ở thời kỳ khoảng đầu Công nguyên là những ngôn ngữ hay phương ngữ không thanh điệu. Về sau, qua quá trình giao thoa với Hoa ngữ và nhất là với các ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai vốn có hệ thống thanh điệu phát triển cao, hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện và có diện mạo như ngày nay, theo quy luật hình thành thanh điệu. Sự xuất hiện các thanh điệu, bắt đầu khoảng thế kỷ thứ VI (thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam) với ba thanh điệu và phát triển ổn định vào khoảng thế kỷ XII (nhà Lý) với 6 thanh điệu. Sau đó một số phụ âm đầu biến đổi cho tới ngày nay. Trong quá trình biến đổi, các phụ âm cuối rụng đi làm thay đổi các kết thúc âm tiết và phụ âm đầu chuyển từ lẫn lộn vô thanh với hữu thanh sang tách biệt.

Ví dụ[13] của A.G. Haudricourt.

Đầu Công nguyên
(không thanh)
Thế kỷ VI
(ba thanh)
Thế kỷ XII
(sáu thanh)
Ngày nay
pa pa pa ba
sla, hla hla la la
ba ba
la la
pas, pah pả bả
slas, hlah hlà lả lả
bas, bah
las, lah
pax, paʔ
slax, hlaʔ hlá
bax, baʔ pạ bạ
lax, laʔ lạ lạ

Trước thời Pháp thuộc

Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập nước. Giai đoạn từ đầu Công nguyên, tiếng Việt có rất nhiều âm không có trong tiếng Trung. Từ khi tiếng Trung có ảnh hưởng tới Việt Nam thông qua nhiều con đường và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, tiếng Việt bắt đầu có những âm được vay mượn từ tiếng Trung. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt chia quá trình tiếp xúc Hán – Việt thành hai giai đoạn lớn:

Từ Hán cổ và từ Hán Việt được gọi chung là từ gốc Hán.

Một số từ ngữ Hán cổ có thể kể đến như "đầu", "gan", "ghế", "ông", "bà", "cô", "chè", "ngà", "chén", "chém", "chìm", "buồng", "buồn", "buồm", "mùi", "mùa"... Từ Hán cổ là những từ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt đã lâu, đã được đồng hoá rất mạnh, nên những từ này hiện nay là từ thông thường trong hoạt động xã hội đối với người Việt.

Hệ thống từ Hán Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện có của tiếng Việt (tương tự như người Nhật Bản áp dụng kanji đối với chữ Hán và katakana với các tiếng nước ngoài khác). Hiện nay có 1945 chữ Hán thông dụng trong tiếng Nhật, cũng có khoảng 2000 từ Hán–Hàn thông dụng). Số lượng từ vựng tiếng Việt có thêm hàng loạt các yếu tố Hán–Việt. Như là "chủ", "ở", "tâm", "minh", "đức", "thiên", "tự do",... giữ nguyên nghĩa chỉ khác cách đọc; hay thay đổi vị trí như "nhiệt náo" thành "náo nhiệt", "thích phóng" thành "phóng thích", "đảm bảo" thành "bảo đảm"...; hoặc được rút gọn như "thừa trần" thành "trần" (trong trần nhà), "lạc hoa sinh" thành "lạc" (trong củ lạc, còn gọi là đậu phộng)...; hoặc được đọc chệch đi như sáp nhập (chữ Hán: 插入) thành sát nhập, thống kế (統計) thành thống kê, để kháng (抵抗) thành đề kháng, chúng cư (眾居) thành chung cư, bảo cô (保辜) thành báo cô, vãng cảnh (往景) thành vãn cảnh (晚景), khuyến mãi (勸買) thành khuyến mại (勸賣), vân vân; hay đổi khác nghĩa hoàn toàn như "phương phi" trong tiếng Hán có nghĩa là "hoa cỏ thơm tho" thì trong tiếng Việt lại là "béo tốt", "bồi hồi" trong tiếng Hán nghĩa là "đi đi lại lại" sang tiếng Việt thành "bồn chồn, xúc động"... Mặt khác, người Trung Quốc gọi là Thái Sơn, Hoàng Hà, cổ thụ... thì người Việt lại đọc là núi Thái Sơn, sông Hoàng Hà, cây cổ thụ (mặc dù sơn = núi, hà = sông, thụ = cây)... Do tính quy ước của ngôn ngữ mà ít nhiều các cách đọc sai khác với tiếng Hán vẫn được chấp nhận và sử dụng rộng rãi, trong khi các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay cũng như các cơ quan, các cấp quản lý, tổ chức xã hội – nghề nghiệp lẫn các nhà khoa học Việt Nam chưa tìm được tiếng nói chung trong việc chuẩn hoá cách sử dụng tên riêng và từ vựng mượn từ tiếng nước ngoài.[14]. Bên cạnh đó, cũng có những từ được cho là dùng sai và khó chấp nhận như, “quan ngại” được dùng và hiểu như “lo ngại”, “vấn nạn” được hiểu là “vấn đề nan giải”, “vô hình trung” thì viết thành “vô hình chung” hay “vô hình dung”, “việt dã” bị hiểu là “chạy dài”; “trứ tác” được dùng như “sáng tác”[15], “phong thanh” được dùng như “phong phanh", “bàng quan” được dùng như “bàng quang”, “đào ngũ” được dùng là “đảo ngũ”, "tham quan" thành "thăm quan", "xán lạn" thành "sáng lạng"…

Tỉ lệ từ Hán Việt trong tiếng Việt rất lớn. Theo ước lượng của các nhà nghiên cứu, từ Hán Việt chiếm khoảng trên dưới 70% vốn từ trong phong cách chính luận, khoa học (Maspéro thì cho rằng, chúng chiếm tới hơn 60% lượng từ tiếng Việt)[14][15]. Tác giả Lê Nguyễn Lưu trong cuốn sách Từ chữ Hán đến chữ Nôm thì cho rằng, về lĩnh vực chuyên môn và khoa học tỉ lệ này có thể lên đến 80%, nhưng khi nhận xét về văn ngữ trong một cuốn tiểu thuyết thì chỉ còn 12,8%, kịch nói rút xuống còn 8,9%, và ngôn ngữ nói chuyện hằng ngày còn thấp hơn nữa.[16].

Các từ và từ tố Hán Việt được sử dụng để tạo ra các từ ngữ mới cho tiếng Việt như sĩ diện, phi công, bao gồm, sống động, sinh đẻ, vân vân. Trong khi tiếng Việt gọi là phát thanh (發聲) thì tiếng Hán lại gọi là 廣播 quảng bá; tiếng Việt gọi là truyền hình (傳形) thì tiếng Hán gọi là 電視 điện thị; tiếng Việt gọi là thành phố (城鋪), thị xã (市社) thì tiếng Hán gọi là 市 thị. Tiếng Việt đã lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình.

Kể từ đầu thế kỷ thứ XI, Nho học phát triển, việc học cổ văn được đẩy mạnh, tầng lớp trí thức được mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng cổ văn cực kỳ phát triển với các áng văn thư nổi tiếng như Nam quốc sơn hà bên sông Như Nguyệt (sông Cầu).

Cùng thời gian này, một hệ thống chữ viết được xây dựng riêng cho người Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết được phát triển, và đó chính là chữ Nôm. Để tiện cho việc học chữ Hánchữ Nôm của người Việt, Ngô Thì Nhậm (1746–1803) đã biên soạn cuốn sách Tam thiên tự giải âm (còn gọi là Tam thiên tự, Tự học toản yếu). Tam thiên tự giải âm chỉ lược dạy 3000 chữ Hán, Nôm thông thường, đáp ứng nhu cầu cần thiết, nhớ chữ, nhớ nghĩa từng chữ, mỗi câu bốn chữ. Hiệp vần cũng có điểm đặc biệt, tức là vần lưng (yêu vận, vần giữa câu). Tiếng thứ tư câu đầu hiệp với tiếng thứ hai câu dưới, rồi cứ thế mãi đến 3000 chữ, 750 câu. Ví dụ: Thiên – trời, địa – đất, cử – cất, tồn – còn, tử – con, tôn – cháu, lục – sáu, tam – ba, gia – nhà, quốc – nước, tiền – trước, hậu – sau, ngưu – trâu, mã – ngựa, cự – cựa, nha – răng, vô – chăng, hữu – có, khuyển – chó, dương – dê,... Trần Văn Giáp đánh giá đây tuy chỉ là quyển sách dạy học vỡ lòng về chữ Hán, như đã nêu ở trên, nhưng thực ra cũng có thể coi nó chính là sách Từ điển Hán Việt thông thường và phổ biến ở cuối thế kỷ XVIII, cùng thời với các sách Chỉ nam ngọc âm, Chỉ nam bị loại, và xuất hiện trước các sách Nhật dụng thường đàm, Thiên tự vănĐại Nam quốc ngữ.[17] Nhờ có chữ Nôm, văn học Việt Nam đã có những bước phát triển rực rỡ nhất, đạt đỉnh cao với Truyện Kiều của Nguyễn Du (17651820). Tiếng Việt, được thể hiện bằng chữ Nôm ở những thời kỳ sau này về cơ bản rất gần với tiếng Việt ngày nay. Tuy hầu hết mọi người Việt đều có thể nghe và hiểu văn bản bằng chữ Nôm, chỉ những người có học chữ Nôm mới có thể đọc và viết được chữ Nôm.

Chữ Nôm được chính thức dùng trong hành chính khi vua Quang Trung lên ngôi vào năm 1789.[cần dẫn nguồn]

Thời Pháp thuộc

Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ thứ XIX, tiếng Pháp dần dần thay thế vị trí của cổ văn, trở thành ngôn ngữ chính thức trong giáo dục, hành chínhngoại giao. Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo châu Âu, đặc biệt là hai tu sĩ người Bồ Đào Nha Gaspar do AmaralAntonio Barbosa, với mục đích dùng ký tự Latinh ghi lại tiếng Việt, được chính quyền thuộc địa bảo hộ nhằm thay thế chữ Hán với chữ Nôm để đồng văn tự với tiếng Pháp và dần dần sử dụng phổ biến trong xã hội.

Tờ Gia Định báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ tại Nam Kỳ vào năm 1865, đặt nền móng cho sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc ngữ như là chữ viết chính của tiếng Việt sau này.

Mặt khác, những khái niệm chính trị xã hội, kỹ thuật mới dẫn đến việc nhập các thuật ngữ, từ ngữ mới. Có hai xu hướng về cách thức nhập thuật ngữ là:

  1. Nhập từ phiên âm của ngôn ngữ phương Tây, chủ yếu là từ tiếng Pháp, và thường được sử dụng bởi tầng lớp thị dân vốn không thạo chữ Hán [18] như ghi đông, phanh, lốp, găng, pê đan, phuốc tăng (nay gọi là phuộc),...
  2. Nhập qua tiếng Trung như chính đảng, kinh tế, giai cấp, bán kính... Trong giới văn hoa thì các tên riêng phương tây được dùng là từ Hán Việt như Á Căn Đình (Argentina), Nã Phá Luân (Napoleon),... hay Tòa Bạch Ốc (Nhà Trắng),... và được coi là "biểu hiện sự trang trọng".

Sau năm 1945

Tiếng Việt thay thế hoàn toàn tiếng Phápcổ văn, trở thành ngôn ngữ làm việc cấp quốc gia duy nhất của Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, sự phát triển tiếng Việt trong chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam diễn ra có chút khác nhau, chủ yếu ở sử dụng từ Hán-Việt và phiên âm tên trong tiếng nước ngoài.

Tại miền Bắc có xu hướng chuyển sang sử dụng từ thuần Việt thay thế từ Hán Việt cùng nghĩa, còn ở miền Nam thì vẫn giữ nguyên việc sử dụng từ Hán Việt như thời trước 1945. Ví dụ như miền Nam vẫn giữ tên "Ngân hàng Quốc gia" trong khi miền Bắc đổi thành "Ngân hàng Nhà nước" (1960), miền Nam lại gọi là "phi trường" thì miền Bắc gọi là "sân bay", miền Nam gọi là "Ngũ Giác Đài" thì miền Bắc gọi là "Lầu Năm Góc", miền Nam gọi là "Đệ nhứt thế chiến" thì miền Bắc kiên quyết gọi là "Chiến tranh thế giới thứ nhất", miền Nam gọi là "hỏa tiễn" thì miền Bắc lại gọi là "tên lửa", miền Nam vẫn gọi là "thủy quân lục chiến" còn miền Bắc lại đổi thành "lính thủy đánh bộ",... Ngược lại ở miền Bắc lại dùng một số danh từ bắt nguồn từ tiếng Hán như "tham quan", "sự cố", "nhất trí", "đăng ký", "đột xuất", "vô tư",... thì miền Nam lại dùng những chữ "thăm viếng", "trở ngại/trục trặc", "đồng lòng", "ghi tên", "bất ngờ", "thoải mái",...

Việc phiên âm tên tiếng nước ngoài thì ở miền Nam vẫn theo cách trước 1945 là dùng tên theo từ Hán Việt, như Băng đảo (Iceland), Úc Đại Lợi (Australia), Hung Gia Lợi (Hungary), Ba Tây (Brazil),... Tại miền Bắc thì chuyển sang phiên âm trực tiếp thành Ai-xơ-len, Ô-xtrây-li-a, Hung-ga-ri,... và trừ ra các tên Hán Việt của đối tượng đã quá phổ biến như "Pháp", "Đức", "Anh", "Nga",... Cá biệt (có thể là duy nhất) một tên tiếng TrungZhuang (người Tráng) được "phiên âm trực tiếp" thành Choang trong tên gọi chính thức "Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây"[19][note 1].

Tại miền Nam, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ đã đem một số từ tiếng Anh vào ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày[cần dẫn nguồn].

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, quan hệ Bắc – Nam được kết nối lại. Gần đây, sự phổ biến của các phương tiện truyền thanh và truyền hình trên toàn quốc đã làm tiếng Việt được chuẩn hóa một phần nào. Nhiều từ thuần Việt được sử dụng phổ biến thay cho từ Hán Việt, cũng như với sự tiến triển của internettoàn cầu hóa, ảnh hưởng của tiếng Anh ngày càng lớn trên báo chí và đội ngũ phóng viên, nhiều từ nước ngoài được đưa vào tiếng Việt có vẻ thiếu chọn lọc cũng như có nhiều ý kiến là có nên viết nguyên bản theo tiếng Anh hoặc ngôn ngữ bản địa nếu cùng là chữ Latinh như "internet", hay nên viết theo âm đọc của tiếng Việt như "in-tơ-nét".

Phân bố

 
Mức độ phổ biến của Tiếng Việt trên khắp lãnh thổ Việt Nam và các quốc gia khác nằm trên Bán đảo Đông Dương. Trong đó các khu vực nhạt màu hơn là các khu vực sử dụng tiếng địa phương dân tộc bản địa nhiều hơn Tiếng Việt ngày nay.

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam, và cũng là ngôn ngữ phổ thông đối với các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Thêm vào đó, có trên 1 triệu người đang sử dụng tiếng Việt tại Hoa Kỳ (đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 3 tại Texas, thứ 4 tại ArkansasLouisiana và thứ 5 tại California), cũng như trên 100.000 người tại CanadaÚc (đứng thứ 6 toàn quốc).[cần dẫn nguồn]

Theo Ethnologue, tiếng Việt còn được nhiều người sử dụng tại Anh, Ba Lan, Campuchia, Côte d'Ivoire, Đức, Hà Lan, Lào, Na Uy, Nouvelle-Calédonie, Phần Lan, Pháp, Philippines, Cộng hòa Séc, Sénégal, Thái Lan, Trung QuốcVanuatu. Tiếng Việt cũng còn được dùng bởi những người Việt sống tại Đài Loan, Nga...

Ngoài ra Tiếng Việt cũng được công nhận là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc vì người Việt được công nhận là dân tộc thiểu số tại Séc[20].

Phương ngữ

Tiếng Việt có sự thay đổi trong giọng nói từ Bắc vào Nam, không đột ngột mà tiệm tiến dần theo từng vùng liền nhau. Trong đó, giọng Bắc (Nam Định – Thái Bình) [note 2], giọng Trung Huế và giọng Nam Sài Gòn là ba phân loại chính. Những tiếng địa phương này khác nhau ở giọng điệu và từ địa phương. Thanh ngã và thanh hỏi ở miền Bắc rõ hơn ở miền Nam và Trung. Miền Bắc phát âm một số phụ âm (tr, ch, n, l...) khác với miền Nam và miền Trung. Giọng Huế khó hiểu hơn những giọng khác vì có nhiều từ địa phương. Từ điển Việt-Bồ-La (1651) của Alexandre de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng.[21] Theo trang thông tin của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc[22] và học giả Laurence Thompson[23] thì cách đọc tiêu chuẩn hiện nay được dựa vào giọng Hà Nội. Tuy nhiên, chưa có quy định nào nói rằng giọng Hà Nội là chuẩn quốc gia.[24]

Giọng chuẩn Nơi sử dụng
Giọng miền Bắc Đồng bằng sông Hồng
Giọng miền Trung Huế
Giọng miền Nam Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn)
Giọng địa phương Nơi thể hiện rõ nét
Giọng Đông Bắc Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định
Giọng Hà Thành Hà Nội và vùng phụ cận
Giọng Thanh Hóa Thanh Hóa
Giọng Nghệ-Tĩnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Giọng Bình-Trị-Thiên Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế
Giọng Quảng Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi
Giọng Nẫu Bình Định, Phú Yên
Giọng Nam Trung Bộ Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng
Giọng Đông Nam Bộ Các tỉnh Đông Nam Bộ
Giọng miền Tây Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Giọng dân tộc thiểu số[cần dẫn nguồn] Các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên
Đặc trưng trong giọng các vùng miền
Miền Bắc Miền Trung Miền Nam
này ni, nầy
thế này ri nè vầy, như vầy
ấy nớ, đó
thế, thế ấy rứa, rứa tề, rứa đó vậy, vậy đó
kia đó
kìa tề đó
đâu đâu
nào mồ nào
sao, thế nào răng sao
tôi tui tui
tao tau tao
chúng tôi bọn tui tụi tui
chúng tao bọn tau tụi tao
mày mi mầy
chúng mày bây, bọn bây tụi mầy
hấn
chúng nó bọn hấn tụi nó
ông ấy ông nớ ổng
bà ấy bà nớ bả
cô ấy dì nớ cổ
chị ấy chị nớ chỉ
anh ấy anh nớ ảnh

Ngữ âm

Nguyên âm

Giống như nhiều ngôn ngữ khác ở Đông Nam Á, tiếng Việt khá phong phú về nguyên âm. Dưới đây là bảng các nguyên âm theo giọng Hà Nội.

Trước Giữa Sau
Đóng i [i] ư [ɨ] u [u]
Nửa đóng ê [e] ơ [əː] ô [o]
Nửa mở e [ɛ] â [ə] o [ɔ]
Mở ă [a] / a [aː]

Trong bảng trên, các nguyên âm trước, giữa và nguyên âm mở là nguyên âm không tròn môi, còn lại là nguyên âm tròn môi. Ăâ là dạng ngắn của aơ.

Đồng thời, tiếng Việt còn có hệ thống nguyên âm đôi và nguyên âm ba.

Phụ âm

Bảng dưới đây trình bày các phụ âm trong tiếng Việt và cách viết.

Môi Chân răng Quặt lưỡi Vòm Vòm mềm Thanh hầu
Mũi m [m] n [n] nh [ɲ] ng/ngh [ŋ]
Tắc thường p [p] t [t] tr [ʈʂ~ʈ] ch [c~tɕ] c/k/q [k~q]
thanh hầu hóa b [ɓ] đ [ɗ]
bật hơi th [tʰ] kh [x~kʰ]
Xát vô thanh ph [f] x [s] s [ʂ] h [h]
hữu thanh v [v] d [z~j] r [ʐ~ɹ] gi [z~j] g/gh [ɣ]
Tiếp cận u/o [w] l [l] y/i [j]

Một số phụ âm chỉ có một cách viết (như b, p), nhưng một số có nhiều cách viết như k, có thể được biểu diễn bằng c, k hay q. Đồng thời, các phụ âm có thay đổi tuỳ theo địa phương. Sự khác biệt về phụ âm giữa các vùng miền được trình bày kỹ càng hơn trong bài phương ngữ tiếng Việt.

Thanh điệu

Dấu thanh trong tiếng Việt
Dấu Chữ mẫu
ngang a  Vi ngang tone.ogg 
sắc á  Vi sac tone.ogg 
huyền à  Vi huyen tone.ogg 
hỏi  Vi hoi tone.ogg 
ngã ã  Vi nga tone.ogg 
nặng  Vi nang tone.ogg 

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang một thanh điệu nào đó. Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ được biểu thị bằng các dấu thanh, còn gọi là dấu, nên một số người quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các "dấu". Có sự khác biệt về số lượng thanh điệu và điệu trị của thanh điệu giữa các phương ngôn của tiếng Việt, thanh điệu có tên gọi giống nhau không đồng nghĩa với việc chúng sẽ được nói giống nhau trong mọi phương ngôn của tiếng Việt. Phương ngôn tiếng Việt Bắc Bộ có sáu thanh điệu, phương ngôn tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ có năm thanh điệu. Thanh điệu của tiếng Việt tiêu chuẩn được cho là gồm sáu thanh: ngang (còn gọi là thanh không dấu do chữ quốc ngữ không có dấu thanh cho thanh điệu này), sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng nhưng lại thiếu các quy định cụ thể về việc lấy cách phát âm trong phương ngôn nào của tiếng Việt làm cách phát âm tiêu chuẩn cho sáu thanh điệu này.

Các âm tiết mang vần nhập thanh, tức là các vần kết thúc bằng một trong ba phụ âm cuối /k/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "c" hoặc chữ cái nhị hợp "ch"), /t/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "t"), /p/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "p") chỉ có thể mang thanh sắc hoặc thanh nặng. Ba âm tắc trên đã làm cho các âm tiết mang vần nhập thanh chỉ có thể mang các thanh điệu có điệu trị ngắn và nhanh.

Trong thơ ca các thanh điệu được phân thành hai nhóm: thanh bằng gồm có ngang và huyền, thanh trắc gồm các thanh còn lại. Trong các thể thơ cổ như Đường luậtlục bát, sự hòa hợp thanh điệu bằng trắc giữa các tiếng trong một câu thơ rất quan trọng.

Ngữ pháp

Giống như nhiều ngôn ngữ khác tại Đông Á và Đông Nam Á, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập. Các quan hệ ngữ pháp được thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống hư từ và cách sắp xếp trật tự từ trong câu. Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Việt là chủ ngữ - vị ngữ - phụ ngữ (SVO). Tuy nhiên, trật tự trong câu có thể trong một số trường hợp được sắp xếp theo kiểu ngôn ngữ nổi bật chủ đề, vì thế mà 1 câu có thể theo trật tự Phụ ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ (OSV).

Vị trí các từ được sắp xếp theo thứ tự, từ mang ý chính đứng trước từ mang ý phụ đứng sau bổ sung nghĩa cho từ mang ý chính, tương tự như danh từ đứng trước tính từ đứng sau bổ sung nghĩa cho danh từ. Tuy nhiên trong rất nhiều trường hợp, bổ ngữ (bao gồm từ mang ý phụ và tính từ) sẽ đứng trước danh từ.

Tiếng Việt còn có hệ thống đại từ nhân xưng phức tạp dựa trên các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội, và hệ thống danh từ đơn vị.

Từ vựng

Từ vựng tiếng Việt được chia ra thành hai bộ phận lớn: từ thuần Việttừ mượn. Ngoài ra còn có những từ hỗn chủng, là kết quả của sự kết hợp các yếu tố thuần Việt và ngoại lai.

Từ thuần Việt

Từ thuần Việt là những từ xuất hiện lâu đời trong tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất trong đời sống hằng ngày. Do có sự tiếp xúc từ rất sớm với các ngôn ngữ nhóm Tày-Thái nên nhiều từ thuần Việt và các từ tương ứng trong các tiếng này có sự giống nhau nhất định về ngữ âmngữ nghĩa.[25]

Trước 1960, một số từ thuần Việt được dùng để đặt tên thông tục cho người trong tầng lớp bình dân, hoặc để tránh bị ma quỷ thần thánh bắt đi. Tại miền Bắc có các tên như "Rụt", "Tằm", "Cột",... nhẹ nhàng hơn thì là "Cu", "Gái",... Tại miền Nam có các tên như "Đực",... Sự phát triển dân trí dẫn đến cách đặt tên thông tục giảm dần.

Từ Hán Việt

Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm nước Việt. Quá trình tiếp xúc lâu dài đã đưa vào tiếng Việt một khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán. Giai đoạn đầu, hiện tượng này diễn ra lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu thông qua đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc giữa người Việtngười Hán, tạo nên một lớp từ có nguồn gốc Hán cổ mà ngày nay đã hoà lẫn với các từ thuần Việt.[26] Đến đời Đường, tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua đường sách vở. Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu được đọc theo ngữ âm đời Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán–Việt. Khi được đưa vào tiếng Việt, bên cạnh việc bị thay đổi về mặt ngữ âm, nhiều từ Hán Việt bị thay đổi cả ngữ nghĩa.[26]

Từ Hán-Việt chiếm một phần không nhỏ trong vốn từ vựng tiếng Việt. Chúng có vai trò quan trọng, hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Người Việt ở tầng lớp trung lưu trở lên đặt tên người theo từ Hán Việt như Sơn, Thủy, Phong,... phân biệt với nhóm bình dân "quê mùa" đặt tên theo tiếng thuần Việt như Núi, Nước, Gió,... Tuy nhiên, nhiều người nổi tiếng có xu hướng đặt các nghệ danh theo tên Hán Việt, thường được báo chí Việt Nam gọi là các tên kêu, các mỹ từ như Nhật Kim Anh, Lý Nhã Kỳ, Quang Lê, Ngô Kiến Huy...

Nhờ cuộc vận động giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt việc sử dụng từ Hán Việt đã có sự chọn lọc, có xu hướng thay thế bằng từ thuần Việt khi có thể. Trong bức thư gửi cho Hồ Mộ La vào năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Răng không kêu chú là chú Minh, lại kêu bằng “Minh thúc”. Tiếng ta có, thì nên dùng tiếng ta, như rứa phổ thông hơn, phải không cháu?"[27]. Hồ Chí Minh cũng đề xuất thay thế các từ "giám mã" bằng "giữ ngựa"...

Từ có nguồn gốc Ấn–Âu

Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng đáng kể đến tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập khá nhiều vào tiếng Việt, chỉ sau từ Hán-Việt. Sự ảnh hưởng này là do tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và trong giảng dạy ở nhà trường, cũng như trong các loại sách báo khác. Ảnh hưởng này kéo theo sự xuất hiện của nhiều từ gốc Pháp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong khoa học kỹ thuật.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng đáng kể của Liên Xô. Do đó, một số từ ngữ gốc Nga có điều kiện du nhập vào tiếng Việt. Đồng thời, cùng với sự tiếp xúc, hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, trong tiếng Việt cũng xuất hiện các từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh.

Nhìn chung, khi được đưa vào tiếng Việt, những từ này được Việt hoá về mặt âm đọc (thêm thanh điệu, thay đổi âm hoặc giảm bớt âm tiết). Do vậy, những từ đơn âm tiết (hoặc được đơn âm hoá), vay mượn qua khẩu ngữ dễ dàng thâm nhập vào tiếng Việt. Trong khi đó, những từ có hai hoặc nhiều âm tiết trở lên, được vay mượn thông qua sách vở vẫn còn dấu ấn ngoại lai.[28] Đặc biệt, nhiều từ được vay mượn nguyên dạng nên tạo không ít khó khăn trong cách phát âm.

Từ có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số

Là một nước đa sắc tộc với 54 dân tộc được công nhận, tiếng Việt phổ thông tiếp nhận một phần tiếng dân tộc thiểu số, gồm từ thông dụng và tên riêng của người hay địa vật, và các từ này có thể có vần "phi Việt". Quá trình này diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử, nhưng chưa được nghiên cứu kỹ. Dựa theo tên người/danh xưng đăng tải trên báo chí và các địa danh trên các bản đồ hành chính, chúng ta có thể phân loại các cách nhập tiếng dân tộc thiểu số như sau [29]:

  1. Từ tiếng nói của hầu hết các dân tộc từ Quảng Bình trở ra, đã cư trú lâu đời cùng người Kinh và/hoặc thuộc vùng Văn hóa Đông Á, như người Mường, Tày, Nùng, Thái,... thì họ tên người thì theo từ Hán Việt như các họ "Triệu", "Đàm", "Cầm", "Đèo",..., còn địa danh thì theo ghi âm như "Nậm", "Huổi/ Khuổi", "Pắc",... Đôi khi sự giao lưu với người Kinh dẫn đến những tên hỗn hợp như Hang Bua (tên tiếng Thái là Thẩm Bua, nghĩa là Hang Sen) [30].
  2. Từ tiếng H'Mông thì theo ghi âm mà không theo từ Hán Việt, mặc dù tiếng H'Mông có quan hệ gần gũi với tiếng Hoa. Ví dụ như các họ Vàng (Vương, Vang), Giàng (Dương, Yang),... hay các địa danh như Lao Cai (nghĩa chữ là Chợ Cũ, từ Hán ViệtLão Nhai 老街), Sa Pa (Sa Pả, nghĩa chữ là Bãi Cát),... Trường hợp loại trừ là họ tên vua Mèo được dùng từ Hán Việt như Vương Chí Sình nhằm thể hiện sự trang trọng.
  3. Từ tiếng nói của các dân tộc ở Tây Nguyên, Nam Bộ,... thì theo ghi âm là chính, như Đăk Lăk, Krông Pắk,... hoặc biến âm như Sóc Trăng, Nha Trang,... Cá biệt có việc giới chức biên phòng đã "Kinh hóa" địa danh đặt tên đồn biên phòng, ví dụ tại xã Pờ Y có Đồn/Cửa khẩu Bờ Y.

Các chữ và vần "phi Việt" được viết theo hướng dẫn trong Quyết định 240/QĐ "Về tên riêng không phải tiếng Việt" [8], trong đó các chữ cái F, J, W, Z có thể tùy nghi sử dụng.

Từ hỗn chủng

Từ hỗn chủng là những từ được tạo thành từ các yếu tố có nguồn gốc khác nhau, như giữa yếu tố thuần Việt và Hán Việt, giữa yếu tố thuần Việt và yếu tố Ấn-Âu. Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng được tạo ra ngày càng nhiều, đóng vai trò quan trọng trong việc diễn đạt các khái niệm mới trong xã hội hiện đại.

Ví dụ:

  • vôi hoá (Hán-Nôm: 𥔦化) – "vôi" là thuần Việt, "hoá" là Hán-Việt.
  • ôm kế – "ôm" là từ tiếng Đức Ohm, "kế" là Hán-Việt.
  • nhà băng – "nhà" là thuần Việt, "băng" là từ tiếng Pháp banque.
  • game thủ – "game" là tiếng Anh, "thủ" là Hán-Việt.

Chữ viết

 
"Tôi nói tiếng Việt Nam" viết bằng Chữ Quốc ngữ (trên) và chữ Nôm (gạch chân) với chữ Hán (dưới)
 
Truyện Nôm Phan Trần bản in năm 1902
 
Một trang Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum tức Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651

Theo dòng lịch sử phát triển, tiếng Việt có hai dạng ký tự để viết:

Chữ Quốc ngữ hiện tại là chữ viết chính của tiếng Việt. Chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo Dòng Tên Bồ Đào Nha xây dựng vào đầu thế kỷ 17 rồi được chuẩn định bởi giáo sĩ Alexandre de Rhodes người Avinhon.[31] Ông là người cho in cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum năm 1651. Cuối thế kỷ 18 tại Đàng Trong diễn ra cuộc chỉnh lý chữ Quốc ngữ dưới sự điều phối của Giám mục Bá Đa Lộc, từ điển có tên Dictionarium Anamatico-Latinum được soạn quãng năm 1772–1773 nhưng mới chỉ là bản viết tay. Sau đó, từ điển của Taberd mang tên Nam Việt–Dương Hiệp Tự vị (tựa Latinh giống với tựa cuốn của Bá Đa Lộc) được xuất bản năm 1838 tại Serampore, Ấn Độ.

Dưới thời Pháp thuộc, chữ Quốc ngữ được chính quyền thuộc địa bảo hộ và cổ súy để đồng văn tự với tiếng Pháp, bắt đầu từ Nam Kỳ rồi tới Bắc Kỳ và Trung Kỳ để dễ dàng phổ biến tiếng Pháp và văn hóa Pháp hơn. Còn các nhà cải cách Việt Nam ủng hộ việc truyền bá hệ chữ này như một phương tiện để khai dân trí, chấn dân khí. Cải cách giáo dục năm 1906 của vua Thành Thái cũng bao gồm chương trình chữ Quốc ngữ. Tuy vậy, chữ Hán và chữ Nôm vẫn được sử dụng song hành với chữ Quốc ngữ cho tới giữa thế kỷ 20. Năm 1950, giảng dạy chữ Hán Nôm bị loại ra khỏi nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[32] Hiện nay, chữ Hán và chữ Nôm vẫn được sử dụng trong cộng đồng người Kinh ở Trung Quốc[33], còn ở Việt Nam thường dùng trong các hoạt động liên quan tới văn hóa truyền thống như viết thư pháp, tìm hiểu lịch sử và văn học cổ.

Thư pháp

Cùng với chữ Hán, KanaHangul, chữ viết tiếng Việt cũng được nhiều người yêu thích thư pháp nâng lên thành một bộ môn nghệ thuật.

Thư pháp chữ Việt đầu tiên được viết là thư pháp chữ Nôm và chữ Hán. Sau này chữ Quốc ngữ trở nên phổ biến, trong khi nhu cầu và sở thích treo chữ trong nhà vẫn còn, người chơi chữ đã khởi xướng thư pháp chữ Quốc ngữ. Còn thư pháp chữ Hán và chữ Nôm hiện nay vẫn được duy trì song song.

Bộ gõ tiếng Việt và giao tiếp tiếng Việt qua mạng

Tuy cùng là chữ Latinh, ngoài 22 ký tự không dấu có trong bảng chữ cái tiếng Anh thì chữ Quốc ngữ còn chứa một lượng lớn ký tự có dấu, bao gồm 7 ký tự Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư cùng 60 chữ nguyên âm (A, Ă, Â, E, Ê, I, O, Ô, Ơ, U, Ư, Y) mang thanh điệu sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng. Tổng cộng là máy tính hay điện thoại cần phải nạp thêm 67 ký tự, gấp hơn 2,5 lần bảng chữ cái của tiếng Anh (26 ký tự) thì mới đủ để viết tiếng Việt. Nên để có thể viết tiếng Việt trên máy tínhđiện thoại di động, cần có bộ gõ là phần mềm hỗ trợ soạn thảo văn bản bằng tiếng Việt đi kèm với một số phông chữ Quốc ngữ cơ bản. Người dùng cũng có thể cài đặt thêm các phông ký tự chữ Quốc ngữ đa dạng khác phụ vụ trang trí và nghệ thuật. Các bộ gõ tiếng Việt khác nhau sẽ quy định các phím bấm khác nhau để hiển thị các dấu thanh, dấu mũ và dấu móc. Có những quy ước chuẩn dấu tiếng Việt, bộ mã, cách gõ và những phần mềm khác nhau. Hiện nay, bộ mã chữ Việt theo chuẩn quốc tế Unicode đang được dùng phổ biến nhất.

Do ký tự có dấu phải mã hóa mất lượng bộ nhớ lớn hơn ký tự không dấu, việc tin nhắn SMS bằng tiếng Việt có dấu bị hạn chế 70 ký tự / 1 tin nhắn (ít hơn một nửa so với 180 ký tự / tin nhắn của tiếng Anh). Nên trước đây người Việt thường nhắn tin SMS không dấu để có thể viết nhiều nội dung hơn và tiết kiệm tiền hơn, mặc dù nội dung bằng tiếng Việt không dấu có thể gây hiểu nhầm. Hiện nay nhờ sự phát triển của Internet trên di động (như Wi-Fi, 4G không giới hạn dung lượng) cùng các ứng dụng OTTmạng xã hội, việc nhắn tin bằng tiếng Việt có dấu trở nên thoải mái hơn mà không lo bị hạn chế ký tự.

Đối với việc gõ chữ Hánchữ Nôm bằng tiếng Việt, do dạng ký tự này hiện nay không được sử dụng phổ biến ở Việt Nam nên các hãng phần mềm hay các hãng sản xuất máy tính và điện thoại coi như loại bỏ. Gần đây để phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu về lịch sử hay văn học cổ cũng như chuyên ngành Hán Nôm, một số cá nhân hay tổ chức đã tạo ra những trang web hay phần mềm giúp viết chữ Hán và chữ Nôm bằng bộ gõ chữ Quốc ngữ. Với chữ Hán do đồng bộ với các chữ của bộ gõ tiếng Trung và tiếng Nhật nên việc hiển thị không quá khó khăn, tuy nhiên với chữ Nôm do một lượng lớn vẫn chưa được mã hoá đầy đủ, nên thường hiển thị bị lỗi trên một số máy tính và điện thoại dưới dạng ô vuông nhỏ.

Chuyện bên lề

Vào cuối những năm 70, NASA sử dụng tiếng Việt và 54 ngôn ngữ khác trên khắp thế giới để liên lạc với người ngoài hành tinh, bằng cách ghi trên đĩa ghi vàng Voyager đặt trên hai con tàu Voyager 1Voyager 2.

Các tác phẩm phim ảnh có phụ đề bằng tiếng Việt thường được gọi tắt là Vietsub (viết tắt của Vietnamese Subtitle: phụ đề tiếng Việt).

Theo Viện Ngôn ngữ học, tiếng Việt có khoảng 40000 từ khác nhau (Chưa bao gồm các từ Mượn và sáng tạo thêm từ năm 2000.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Tên gọi "Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây" xuất hiện trên Báo ảnh Trung Quốc cỡ năm 1958, do biên tập viên của báo trú tại Hà Nội đã phiên âm trực tiếp từ Zhuang theo giọng Hà Nội thành Choang, mà lẽ ra phải là Troang hay Truang. Tên này từ đó trở thành phổ biến, và cũng được giới chức Quảng Tây sử dụng khi sang làm việc với bên Việt Nam.
  2. ^ Giọng Bắc điển hình là giọng vùng Nam Định - Thái Bình (trừ ra chỗ nói ngọng l-n) và trước đây được coi là giọng chuẩn tiếng Việt. Giọng Hà Nội nói quá nhẹ, không phân biệt s-x, gi-d, ch-tr,... không được xem là chuẩn và đặc trưng của vùng. Tuy nhiên nhiều người nước ngoài đến học tập tại Hà Nội đã bị nhiễm giọng này và coi là giọng đặc trưng của tiếng Việt.

Tham khảo

  1. ^ a ă Có người tranh luận là nhánh Việt-Mường là nhánh tách biệt, chứ không nằm ở dưới nhánh Môn-Khmer và hệ Nam Á, nhưng phân loại bên trên vẫn được công nhận thông thường.
  2. ^ “Thế đứng của tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  3. ^ Česko má nové oficiální národnostní menšiny. Vietnamce a Bělorusy - iDNES.cz
  4. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert và đồng nghiệp biên tập (2013). “Vietnamese”. Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology. 
  5. ^ Lê Bá Khanh; Lê Bá Kông (1998) [1975]. Vietnamese-English/English-Vietnamese Dictionary (bằng tiếng Anh) . Thành phố New York (Hoa Kỳ): Nhà xuất bản Hippocrene Books. tr. 315. ISBN 0-87052-924-2. Việt. — Nam:... Tiếng — Nam: Vietnamese... Ông ấy có thể nói tiếng — Nam: He can speak Vietnamese. 
  6. ^ “Hiến pháp năm 2013” (PDF). Quốc hội Việt Nam. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2014. 
  7. ^ "Chữ quốc ngữ chưa được Nhà nước công nhận là quốc tự", Giáo dục VN, 22/12/2012
  8. ^ a ă Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt. Thuvien Phapluat, 2015. Truy cập 12/05/2017.
  9. ^ “Ngôi làng đặc biệt của những người Việt ở Quảng Tây (Trung Quốc)”. VTV News. 17 tháng 9 năm 2018. 
  10. ^ Codes for the Representation of Names of Languages, Library of Congress. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  11. ^ Vietnamese at Ethnologue, 18th ed., 2015. Truy cập 12/12/2017.
  12. ^ Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, eds. (2017). "Vietnamese". Glottolog 3.1. Jena, Germany: Max Planck Institute for the Science of Human History. Truy cập 12/12/2017.
  13. ^ Âm vị và các hệ thống âm vị tiếng Việt
  14. ^ a ă Thuật ngữ và tên riêng tiếng nước ngoài, Nguyễn Văn Khang (2003), http://www.khoahocviet.info/ Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015
  15. ^ a ă VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỪ HÁN VIỆT VÀ VIỆC DẠY – HỌC TỪ HÁN VIỆT HIỆN NAY Khoa Việt Nam học, Đại học sư phạm Hà Nội. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015
  16. ^ Lê Nguyễn Lưu, Từ chữ Hán đến chữ Nôm. Huế: nxb Thuận Hóa, 2002. tr 202-210
  17. ^ Về cuốn Tam thiên tự do Ngô Thì Nhậm soạn, HOÀNG HỒNG CẨM Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (80) 2007; Tr.18-26
  18. ^ Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc, Các từ ngữ gốc Ấn-Âu Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1997, trang 213–219.
  19. ^ Giới thiệu về khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Đông Hưng Online, 06/12/2017. Truy cập 30/06/2019.
  20. ^ Người Việt được công nhận là dân tộc thiểu số tại Séc - DVO - Báo Đất Việt
  21. ^ GIA GIA, DA DA hay ĐA ĐA?
  22. ^ “越南ABC” (bằng tiếng Trung). Trang thông tin Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2011. 
  23. ^ Thompson, Laurence (1987). A Vietnamese Reference Grammar. University of Hawaii Press. tr. 3. ISBN 0824811178. 
  24. ^ http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/chua-co-quy-dinh-giong-ha-noi-la-chuan-quoc-gia-101568.html
  25. ^ “Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Lớp từ thuần Việt”. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  26. ^ a ă “Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Các từ ngữ gốc Hán”. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  27. ^ Bác Hồ với gia đình nhà giáo Hồ Mộ La Trịnh Tố Long, Báo điện tử Quân đội nhân dân, Thứ Năm, 18/11/2010. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015
  28. ^ “Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Các từ ngữ gốc Ấn-Âu”. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  29. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  30. ^ Tháng Giêng trẩy hội Hang Bua. cinet, 2012. Truy cập 22/02/2016.
  31. ^ Trần, Quốc Anh; Phạm, Thị Kiều Ly (tháng 10 năm 2019). Từ Nước Mặn đến Roma: Những đóng góp của các giáo sĩ Dòng Tên trong quá trình La tinh hoá tiếng Việt ở thế kỷ 17. Hội thảo Bốn trăm năm hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ. TP.HCM: Ủy ban Văn hóa, Hội đồng Giám mục Việt Nam. 
  32. ^ Vũ Thế Khôi (2009). "Ai "bức tử" chữ Hán - Nôm?"
  33. ^ “Ngôi làng đặc biệt của những người Việt ở Quảng Tây (Trung Quốc)”. VTV News. 17 tháng 9 năm 2018. 

Liên kết ngoài