Hàn Quốc

quốc gia ở khu vực Đông Á, nằm ở phía nam của bán đảo Triều Tiên


Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên한국韓國Hanguk); quốc hiệu chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (tiếng Triều Tiên대한민국大韓民國Daehan Minguk), là quốc gia thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên. Biên giới trên bộ cũng như trên biển ở phía Bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thông qua Khu phi quân sự liên Triềuvùng biển Bắc Triều Tiên qua Đường giới hạn phía Bắc, phía Đông tiếp giáp biển Nhật Bản, phía Nam giáp với đảo Kyushu (Nhật Bản) thông qua eo biển Triều Tiên và phía Tây là biển Hoàng Hải.[15]

Đại Hàn Dân Quốc
Tiêu ngữ홍익인간 (Hangul)
弘益人間 (Hanja)
Hongik Ingan (Romaja)
Hoằng Ích Nhân Gian
Cống hiến hạnh phúc cho nhân loại[1]
Quốc ca애국가 (Hangul)
愛國歌 (Hanja)
Aegukga (Romaja)[a]
Ái quốc ca
Quốc hoa: Rose of sharon Icon.svg Hoa dâm bụt
무궁화 (Hangul)
無窮花 (Hanja)
Mugunghwa (Romaja)
Quốc ấn
Seal of South Korea.svg
대한민국의 국새 (Hangul)
大韓民國의 國璽 (Hanja)
Daehan Minguk-ui Guksae (Romaja)
Quốc ấn Đại Hàn Dân Quốc
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh)   Tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế   Tuyên bố chủ quyền nhưng không kiểm soát trên thực tế
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh)
  Tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế
  Tuyên bố chủ quyền nhưng không kiểm soát trên thực tế
Lãnh thổ thực tế (xanh đậm)
Lãnh thổ thực tế (xanh đậm)
Tổng quan
Thủ đôFlag of Seoul.svg Seoul
37°33′B 126°58′Đ / 37,55°B 126,967°Đ / 37.550; 126.967
Thành phố lớn nhấtSeoul
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Hàn Quốc
(Pyojun-eo)
Ngôn ngữ ký hiệu Hàn Quốc[2]
Văn tự chính thứcHangul
Sắc tộc
(2019)[3][3]
95.1% Hàn (Triều Tiên)
4.9% khác
Tôn giáo chính
Tên dân cư
Chính trị
Chính phủNhà nước đơn nhất
Cộng hòa lập hiến
Tổng thống chế
Moon Jae-in
Kim Boo-kyum
Park Byeong-seug
Kim Myeong-soo
Yoo Nam-seok
Lập phápQuốc hội Hàn Quốc
Lịch sử
Độc lập 
13 tháng 10 năm 1897
17 tháng 11 năm 1905
22 tháng 8 năm 1910
1 tháng 3 năm 1919
11 tháng 4 năm 1919
15 tháng 8 năm 1945
8 tháng 9 năm 1945
15 tháng 8 năm 1948
25 tháng 6 năm 1950
27 tháng 7 năm 1953
25 tháng 2 năm 1988
27 tháng 4 năm 2018
Địa lý
Diện tích  
• Tổng cộng
100,363 km2 (hạng 107)
38,750 mi2
• Mặt nước (%)
0.3 (301 km2 / 116 mi2)
Dân số 
• Ước lượng 2019
Tăng 51,709,098[8] (hạng 27)
• Điều tra 2021
Giảm 51,330,639[9]
507/km2 (hạng 13)
1,313/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2021
• Tổng số
Tăng 2,503 nghìn tỷ USD[10] (hạng 14)
Tăng 48.309 USD[10] (hạng 25)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2021
• Tổng số
Tăng 1,824 nghìn tỷ USD[10] (hạng 10)
• Bình quân đầu người
Tăng 35.196 USD[10] (hạng 26)
Đơn vị tiền tệWon (₩) / Won 대한민국 원 (KRW)
Thông tin khác
Gini? (2018)Giảm theo hướng tích cực 34.5[11]
trung bình
FSI? (2021)Tăng theo hướng tiêu cực 32.5[12][13]
bền vững · hạng 159
HDI? (2020)Tăng 0.916[14]
rất cao · hạng 23
Múi giờUTC+09:00 (Giờ chuẩn Hàn Quốc)
• Mùa hè (DST)
UTC+09:00
Cách ghi ngày tháng
  • yyyy년 m월 d일
  • yyyy-mm-dd
    (năm-tháng-ngày)
Điện thương dụng220 V – 60 Hz
Giao thông bênPhải
Mã điện thoại+82
Mã ISO 3166KR
Tên miền Internet
Trang web
www.korea.net
Location of Hàn Quốc
Tiền thân
Đệ Ngũ Đại Hàn Dân Quốc

Hàn Quốc có khí hậu ôn đới, địa hình chủ yếu là đồi núi, lãnh thổ trải rộng 100.363 km², quy mô dân số ước tính vào khoảng hơn 51 triệu người với 99% cư dân là người Triều Tiên[16], Hàn Quốc được coi là một quốc gia dân tộc.

Sau khi thành lập, Hàn Quốc trải qua chiến tranh Triều Tiên, trong các thập niên từ 1960 đến đầu thế kỷ 21, với sự kiện Kỳ tích sông Hán, kinh tế Hàn Quốc đã được khôi phục, phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn với thu nhập cao.[17] Năm 1996, Hàn Quốc chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia công nghiệp phát triển khi gia nhập OECD.

Hàn Quốc là quốc gia đạt được kỳ tích công nghiệp hóa thứ hai trong lịch sử châu Á sau Nhật Bản[18], là một trong bốn con rồng kinh tế châu Á cùng với Đài Loan, Hồng KôngSingapore, thành viên của hầu hết các tổ chức toàn cầu lớn trong đó nổi bật như: Liên Hợp Quốc, G20, Câu lạc bộ Paris, IAEA, OECD, WTO, APEC,... Có chỉ số phát triển con người rất cao[19][20], là nền kinh tế lớn thứ 10 thế giới[21][22], 11 về tài sản quốc gia[23] cũng như hạng 8 toàn cầu theo dự trữ ngoại tệ (2021).[24]chỉ số dân chủ cao nhất châu Á.[25][26] Mặc dù đã ký Hiệp ước không phổ biến các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, quốc gia này vẫn duy trì một lực lượng quân đội hiện đại - đứng hạng 8 về ngân sách quốc phòng (2021)[27] đồng thời là nhà xuất khẩu vũ khí lớn thứ 6 thế giới (2020).[28][29] Hộ chiếu Hàn Quốc nằm trong nhóm quyền lực nhất thế giới cùng Nhật Bản, Singapore[30], hiện đang giữ hạng 2 (2021)[31] và có những thời điểm vươn lên số 1 toàn cầu[32], đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản), hạng 17 thế giới về chỉ số tiến bộ xã hội[33][34][35], được công nhận là một cường quốc khu vực tại Đông Á[36], cường quốc bậc trung trên thế giới[37] cũng như là một trong những đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ.[38]

Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã phát triển và truyền bá mạnh mẽ văn hóa Hàn Quốc ra phạm vi toàn cầu; hay còn được biết đến với tên gọi "Làn sóng Hàn Quốc".[39][40]

Mặc dù là một quốc gia phát triển, tuy nhiên hiện nay; Hàn Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức như tình trạng lão hóa dân số do tỷ lệ sinh cũng như kết hôn giảm mạnh[41][42][43], các định kiến xã hội vẫn tồn tại[44][45], thất nghiệp[46], áp lực cuộc sống cao cùng nạn tự sát[47][48], bất bình đẳng xã hội với khoảng cách của sự phân hóa giàu nghèo đang ngày một gia tăng.[49]

Quốc hiệu

Tại bán đảo Triều Tiên

Những tên gọi "Đại Hàn" (Daehan, Taehan), "Triều Tiên" (Joseon, Chosŏn), "Hàn Quốc" (Han'guk), "Nam Hàn" (Namhan), "Nam Triều Tiên" (Namjoseon) hay "Bắc Hàn" (Buk'han), "Bắc Triều Tiên" (Bukjoseon) tuy khác nhau, phức tạp và đa dạng trong tiếng Việt nhưng khi sử dụng quốc tế hoặc dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau, ví dụ; tiếng Anh dịch thành "Korea", tiếng Pháp dịch là "Corée", tiếng Nga dịch là "Корея" (chuyển tự Latinh: Koreya), tiếng Tây Ban Nha dịch là "Corea",... Cách dùng này bắt nguồn từ quốc hiệu "Cao Ly" (고려/高麗/Goryeo/Koryŏ) của nhà nước từng tồn tại trên bán đảo từ năm 918 đến 1392. Trong thời kỳ này, tên gọi "Cao Ly – Korea" đã thông qua những thương nhân người Ả-Rập mà lan rộng, truyền bá đến châu Âu.

Từ năm 1392, bán đảo nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Joseon/Chosŏn/조선/朝鮮/대조선국/大朝鮮國). Kể từ đó, cái tên "Triều Tiên" được dùng làm quốc hiệu để chỉ chung cho toàn bộ dân tộc sinh sống trên bán đảo. Giai đoạn 1897-1910, phong trào Đông Học nổ ra kết hợp với cải cách Quang Vũ của Đại Hàn Cao Tông, bán đảo chuyển sang dùng danh xưng "Đế quốc Đại Hàn" (Daehan Jeguk/대한제국/大韓帝國). Giai đoạn 1910-1945, sau khi ký kết các hiệp ước bất bình đẳng, bán đảo chịu sự chi phối và là một phần trong lãnh thổ Đế quốc Nhật Bản. Sau khi hai miền đất nước bị chia cắt vào năm 1945, vùng lãnh thổ phía Bắc chọn lại quốc hiệu cũ, gọi chính thể của mình là "Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên" (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk/조선민주주의인민공화국/朝鮮民主主義人民共和國), vùng lãnh thổ phía Nam chọn quốc hiệu "Đại Hàn Dân Quốc" (Daehan Min'guk/대한민국/大韓民國), gọi tắt là "Hàn Quốc" (Han'guk/한국/韓國) - tiếp tục kế thừa "Đại Hàn Đế Quốc". Trong đó, chữ "Dân Quốc" (Min'guk/민국/民國) trong "Đại Hàn Dân Quốc" được lấy theo quốc hiệu của Trung Hoa Dân Quốc (Zhōnghuá Mínguó/中華民國), khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì cũng được dịch tương đương như "Cộng hoà Quốc" (Konghwaguk/공화국/共和國, nước Cộng hoà). Trong tiếng Anh, "Dân Quốc" và "Cộng hoà Quốc" đều được dịch là "Republic", tiếng Pháp dịch là "République", tiếng Tây Ban Nha là "República" còn tiếng Nga là "Республика" (chuyển tự Latinh: Respublika).

Trên toàn cầu

Phía Hàn Quốc luôn yêu cầu đơn vị truyền thông cùng các cơ quan quốc tế khi đề cập tới "Hàn Quốc" hay "Đại Hàn Dân Quốc" thì hạn chế dùng "South Korea" (Nam Cao Ly) mà phải sử dụng quốc hiệu "Republic of Korea" hoặc "Korea Republic" (Cộng hòa Cao Ly), nếu gọi ngắn thì chỉ dùng "Korea" (Cao Ly). Tuy nhiên, "South Korea" lại khá phổ biến trong tiếng Anh thường nhật vì được sử dụng để phân biệt với "North Korea" (Bắc Cao Ly/Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên). Bên cạnh đó, các bản đồ chính thức ở cả Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc đều không vẽ giới tuyến phi quân sự mà gộp chung lãnh thổ vào làm một, nhằm thể hiện rằng hai miền về bản chất vẫn là một dân tộc và lãnh thổ Đại Hàn/Triều Tiên/Cao Ly là của chung.

Tại Việt Nam

Trong quá khứ, quốc hiệu của Đại Hàn Dân Quốc ở Việt Nam thường được gọi bằng các tên gọi như: Đại Hàn, Nam Hàn (theo cách gọi tắt từ phía chính quốc và Trung Hoa Dân Quốc), Nam Triều Tiên (theo cách gọi của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) hay Cộng hòa Triều Tiên (theo cách gọi của phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trước năm 1992). Trong thời kỳ chia cắt (1954-1976), báo chí và truyền thông của Việt Nam Cộng hòa (trước đó là Quốc gia Việt Nam) gọi chính thể này là "Đại Hàn". Sau năm 1975, nhà nước Việt Nam thống nhất sử dụng tên gọi "Nam Triều Tiên" giống như cách gọi "Bắc Triều Tiên".

Ngày 23 tháng 3 năm 1994, bằng công hàm số KEV-398 gửi Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại sứ quán nước này đề nghị phía Việt Nam gọi chính thể của mình là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc" (từ "Hàn" ở đây không phải "Lạnh" mà là ký âm tự của từ "Han" trong tiếng Hàn Quốc cổ, có nghĩa là "Lớn"), không sử dụng các tên gọi cũ như "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên" nữa vì "Triều Tiên" gợi nhắc đến danh xưng của miền Bắc (Bắc Triều Tiên). Đáp lại, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi tất cả các cơ quan bộ, ngành, tổng cục thông tin, truyền thông cùng ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu: "Từ nay gọi chính thể Nam Triều Tiên là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc", không dùng các tên gọi cũ như Cộng hoà Triều Tiên, Nam Triều Tiên hay Nam Hàn nữa".[50] Danh xưng "Nam Triều Tiên" hiện nay chỉ còn được truyền thông của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sử dụng do nước này không công nhận tuyên bố chủ quyền của Hàn Quốc.

Trong đời sống thường nhật, tên gọi Hàn Quốc trong khẩu ngữ của người Việt - đặc biệt là thế hệ trẻ; thường được gọi tắt là "Hàn", tương tự như cách gọi Trung (Trung Quốc), Nhật (Nhật Bản), Sing (Singapore), Đài (Đài Loan) hay Thái (Thái Lan),...

Lịch sử

Thời kỳ cổ đại

 
Các di chỉ khảo cổ học đầu tiên thuộc về thời kỳ Jeulmun

Những nghiên cứu, bằng chứng khoa học và chứng cứ khai quật khảo cổ học cho thấy rằng bán đảo Triều Tiên đã có xuất hiện con người sinh sống ngay từ thời đại đồ đá cũ.[51] Di chỉ khảo cổ học cùng các địa điểm định cư sớm nhất của con người tại đây trong thời kỳ Jeulmunthời kỳ Mumun được phát hiện ở phía nam bán đảo.

Lịch sử Triều Tiên cổ đại bắt đầu với sự thành lập của nhà nước Cổ Triều Tiên bởi Đàn Quân vào khoảng năm 2333 TCN; sau đó là giai đoạn tiền Tam Quốc với hàng loạt bộ lạc, tiểu quốc nhỏ phân tranh. Chế độ quân chủ của các quốc gia trên bán đảo có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc khi quyền cai trị thuộc về các triều đại phong kiến chuyên chế kế tập, Phật giáo Trung Hoa cùng Đạo giáo của Lão Tử có tầm ảnh hưởng lớn và Nho giáo của Khổng Tử được lấy làm nền tảng tư tưởng gốc rễ cho toàn xã hội.

Trong thời kỳ Tam Quốc, dưới triều đại Quảng Khai Thổ Thái Vương của Cao Câu Ly, lãnh thổ của ông được mở rộng sau một loạt chiến dịch quân sự nhằm chinh phục các tiểu quốc thành công, hình thành nên một trong những Đế quốc rộng lớn nhất Đông Bắc Á đương thời.[52][53] Sau Tam Quốc, Nam-Bắc Quốchậu Tam Quốc, bán đảo Triều Tiên tiếp tục trải qua triều đại Cao Lynhà Triều Tiên với vị thế là một đất nước độc lập cho đến cuối thời kỳ của Đế quốc Đại Hàn.

Thời kỳ cận đại

 
Ất Mùi sự biến trên tuần báo Pháp Le Journal illustré
 
Nhật Bản tấn công đảo Ganghwa
 
Phong trào 1 tháng 3 ở Seoul - cuộc cách mạng tư sản đầu tiên

Bước sang thời kỳ cận đại, Hoàng tộc Triều Tiên dưới quyền chi phối và lãnh đạo chuyên chính của Hưng Tuyên Đại Viện Quân đã thực thi chính sách "Bế quan tỏa cảng", tự cô lập đất nước cũng như thẳng tay đàn áp Thiên Chúa giáo.[54] Trong khi đó tại quốc gia láng giềng Nhật Bản, sau thất bại của Mạc phủ Tokugawa trong chiến tranh Mậu Thìn dẫn đến sự kết thúc của chế độ Shōgun, thành công của công cuộc Minh Trị Duy tân, chấm dứt chủ nghĩa Tỏa Quốc cùng chiến thắng trong các cuộc chiến tranh Thanh–Nhật, chiến tranh Nga–Nhậtchiến tranh thế giới thứ nhất đã trở thành một thế lực mới, dần thay thế phương Bắc mở rộng ảnh hưởng lên Triều Tiên.

Về chính trị, vào ngày 8 tháng 10 năm 1895, giới cầm quyền Nhật giật dây vụ ám sát Hoàng hậu Minh Thành - nhân vật có tư tưởng cải cách duy tân cùng nhiều chính sách ngoại giao tiến bộ hiếm hoi trong Hoàng thất Triều Tiên, người được xem là rào cản duy nhất đối với tham vọng sáp nhập bán đảo của đế quốc Nhật Bản. Về quân sự, Hải quân Nhật Bản sử dụng "Ngoại giao pháo hạm" - mở đầu bằng sự kiện chiến hạm Unyō tấn công đảo Ganghwa (20/9/1875), gây áp lực buộc nhà Triều Tiên phải mở cửa các hải cảng đồng thời nhanh tay kiểm soát vùng lãnh thổ này trước các đế quốc phương Tây - khởi đầu bằng Điều ước bất bình đẳng Nhật–Triều (26/2/1876). Cuối cùng, sau sự kiện Thủ tướng Nhật Bản Itō Hirobumi bị nhà cách mạng An Jung-geun ám sát tại nhà ga Cáp Nhĩ Tân (26/10/1909).[55] Đế quốc Nhật Bản sử dụng vũ lực để sáp nhập bán đảo, quân phiệt Nhật cùng với các lực lượng tay sai, nội gián bản địa do chính phủ Yi Wan-yong đứng đầu ép vua Thuần Tông ký kết Nhật–Triều Tịnh Hợp điều ước 1910 (Điều ước Sáp nhập hay "Hiệp ước quốc sỉ" - theo cách gọi của các thế hệ người Hàn Quốc sau này), trực tiếp kiểm soát bán đảo trong vòng 35 năm (1910-1945), giai đoạn này được gọi là Triều Tiên thuộc Nhật.

Thời kỳ hiện đại

Thành lập Dân Quốc

 
Nhật Bản bàn giao chính quyền cho quân đội Hoa Kỳ tại Seoul (9/9/1945)
 
Lễ thành lập nhà nước Đại Hàn Dân Quốc (15/8/1948)
 
Lễ kỷ niệm 60 năm Chiến tranh Triều Tiên (2010)

Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên chấm dứt sau khi đế quốc này bại trận trong chiến tranh Thái Bình Dương vào giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai và đầu hàng, bán đảo được quân đội Đồng Minh giải phóng và theo thoả thuận của Hội nghị Yalta, Triều Tiên bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự bởi Liên Xô cùng Hoa Kỳ, Liên bang Xô viết chiếm đóng miền Bắc cho đến vĩ tuyến 38 trong khi Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về phía Nam, hai siêu cường sau đó đã không thể đạt được đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.

Tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đề ra giải pháp nhằm tiến hành tổng tuyển cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại hai miền đã khước từ việc này, Liên Hợp Quốc sau đó tiếp tục đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử ngay tại địa phương nhưng những hoạt động bầu cử độc lập riêng rẽ đầu tiên đã được tiến hành ngay từ ngày 10 tháng 5 năm 1948 tại các tỉnh phía nam vĩ tuyến 38, điều này dẫn tới việc thành lập nhà nước Đại Hàn Dân Quốc do Lý Thừa Vãn đứng đầu, sau đó đáp lại, miền Bắc cũng tiến hành tổ chức bầu cử, chính phủ và nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời; do Kim Nhật Thành lãnh đạo, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ bán đảo. Trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và được sự hậu thuẫn từ phía Liên Xô, Trung Quốc và Khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa thì ngược lại, Nam Triều Tiên được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, điều này khiến cho những mâu thuẫn chính trị - xã hội giữa hai miền vốn đã trong tình trạng căng thẳng, nay càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Các xung đột dẫn đến kết cục là Chiến tranh Triều Tiên khi quân đội Bắc Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc miền Nam vi phạm trước và tổng tấn công, Hoa Kỳ cùng Liên Hợp Quốc tham chiến hỗ trợ Đại Hàn Dân Quốc còn hậu thuẫn Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô, Trung Quốc và Khối Xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953 và chỉ tạm dừng khi các bên ký kết Thoả thuận đình chiến tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm thuộc Khu phi quân sự Triều Tiên, vĩ tuyến 38 chia cắt bán đảo Triều Tiên vĩnh viễn từ đó. Chiến tranh Triều Tiên khiến cho hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị ảnh hưởng, rất nhiều người dân, binh lính, quân nhân bị thương tật, một số khác thì bị mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn những người thân trong gia đình, cuộc chiến này còn tiêu tốn của các bên số tiền lên tới hơn 30 tỷ đô la Mỹ vào thời điểm những năm 1950-53, tương đương khoảng 325 tỷ theo thời giá ước đoán hiện nay.[56]

Sau chiến tranh, Bắc Triều Tiên tuyên bố tiếp tục theo đuổi "sự nghiệp thống nhất đất nước" trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất bằng "Cách mạng Xã hội chủ nghĩa". Ngược lại, phía Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là chính thể có chủ quyền hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên đồng thời không công nhận Bắc Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng lẫn nhau khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến thập niên 1960. Đầu thập niên 1970, quan hệ hai miền dần cải thiện, hai bên chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, hai nhà nước được mời gia nhập Liên Hợp Quốc cùng một lúc. Hàn Quốc là quốc gia đầu tư kinh tế và hoạt động chủ yếu, tích cực nhất trong chiến dịch viện trợ lương thực giúp Bắc Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc.

Thời kỳ độc tài quân sự

 
Park Chung-hee (giữa) trong cuộc đảo chính 16 tháng 5
 
Park Chung-hee xây dựng hình ảnh thông qua sự sùng bái cá nhân

Quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc bị thấm đẫm bởi máu, xung đột và bạo lực. Lý Thừa Vãn sau khi nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay đối với những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật bất đồng chính kiến. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế trì trệ, phát triển chậm chạp. Năm 1960, Lý Thừa Vãn đối mặt làn sóng bất bình cực lớn của người dân. Cuối cùng, ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang Honolulu (Hoa Kỳ) và sống tị nạn tại đây cho tới cuối đời. Hiện nay, dư luận cùng giới chuyên gia ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.[57]

Chính phủ dân sự ngắn ngủi kế nhiệm của Phó Tổng thống Chang Myon bị lật đổ sau cuộc đảo chính của tướng Park Chung-hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963, Park Chung-hee kiểm soát chính phủ và chính thức lên nắm quyền tổng thống, trở thành nhà lãnh đạo thứ ba cũng như độc tài thứ hai của Hàn Quốc.

Thông qua hoạt động của Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia, Park Chung-hee đã giải tán Quốc hội cùng các đảng phái chính trị đối lập đang hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung-hee ban hành loạt sắc lệnh cấm công nhân tổ chức mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm lực lượng mật thám, nhân viên thân tín của chính phủ vào bên trong nội bộ các tổ chức công đoàn công nhân để giám sát và rồi dần dần kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Bên cạnh đó, về chính sách đối ngoại, quân đội Hàn Quốc được Park Chung-hee gửi sang chiến đấu cùng Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ, thủ tiêu, do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park.[57]

Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung-hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park Chung-hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia "dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế". Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản Hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó, hiến pháp mới chính thức chấm dứt bầu cử dân chủ trực tiếp đồng thời suy tôn Park Chung-hee làm "Tổng thống trọn đời". Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng đổi lại, nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.

Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại trường Đại học Busan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới hơn 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Pusan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung-hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee bị bắn chết bởi Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc và nhóm của mình. Ngay sau đó, Kim Jae-gyu cùng đồng phạm bị tử hình bằng hình thức treo cổ, nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn đang phải phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae-gyu là người góp công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.

Thời đại Park Chung-hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung-hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung-hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo-hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung-hee. Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung-hee đã được bình chọn là "Tổng thống vĩ đại nhất" trong lịch sử nước này (với tỷ lệ bình chọn là 44%).[58]

 
Hội trường Tưởng niệm ở Nghĩa trang Dân chủ 18 tháng 5, nơi chôn cất thi thể các nạn nhân của vụ thảm sát Gwangju
 
Phòng tưởng niệm Park Jong-cheol ở Namyeong, Seoul

Năm 1980, tướng Chun Doo-hwan được một hội đồng quân sự bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Jeolla Nam đã xảy ra Phong trào dân chủ Gwangju - khi người dân địa phương tổ chức đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát để chống lại lực lượng cảnh sát của chính phủ Chun Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp tàn bạo một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ cũng như đòi quyền tự do bầu cử của sinh viên địa phương.[59][60] Quân đội với vũ khí sát thương hạng nặng đã được điều động đến. 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng từ 1.000 tới 2.000 thường dân.[61][62]

 
Phong trào Dân chủ Tháng Sáu

Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc thảm sát Gwangju, Chun Doo-hwan trở thành nhà lãnh đạo thứ năm cũng như độc tài thứ ba trong lịch sử chính trị Hàn Quốc. Cũng giống như người tiền nhiệm Park Chung-hee, Chun bắt đầu tiến hành kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ hơn, ông ta loại bỏ hoàn toàn các chính trị gia đối lập khỏi chính trường và tiến hành thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Chun Doo-hwan thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt mang tên gọi "Trại giáo dục Samcheong", để tiến hành chương trình "giáo dục thanh lọc".[63] Khoảng hơn 40 nghìn người bị bắt đưa đến các cơ sở của trại Samcheong. Số liệu thống kê về sau cho thấy có 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người khác chết sau đó.[63] Năm 1986, Chun Doo-hwan tiếp tục ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động có tư tưởng trái với khuynh hướng của giới cầm quyền, đồng thời nghiêm cấm triệt để các tổ chức công đoàn hoạt động, rất nhiều tổ chức chính trị theo đuổi dân chủ tự do bị đàn áp khốc liệt như Liên minh Dân chủ Thống nhất hay Phong trào Nhân dân.

Tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn dã man của cảnh sát đã dẫn tới cái chết của Park Jong-cheol, sinh viên trường Đại học Quốc gia Seoul. Sau đó, người dân Hàn Quốc tiếp tục nổi dậy sau cái chết của sinh viên Park. Họ tổ chức hàng loạt cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu, tra tấn tàn bạo của chế độ Chun Doo-hwan đồng thời yêu cầu sửa đổi Hiến pháp. Đây chính là sự khởi đầu cho Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu - hàng triệu người tham gia vào cuộc "Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân" được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to các khẩu hiệu "Bãi bỏ hiến pháp xấu xa", "Xóa bỏ chế độ độc tài". Dưới áp lực ấy, chính quyền Chun Doo-hwan đã buộc phải tiến hành sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Tuy nhiên, mặc cho tội ác của mình, Chun vẫn nắm giữ vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới năm 1988 và phải mãi đến tận năm 1996 mới bị chính phủ mới kết tội nổi loạn, phản quốc, tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát dân thường và tuyên án tử hình nhưng sau đó được giảm xuống còn chung thân do Tòa án Tối cao cân nhắc vai trò của Chun khi đưa nền kinh tế Hàn Quốc trở thành "con Hổ châu Á", bảo vệ đất nước khỏi khủng hoảng chính trị đồng thời chuyển giao quyền lực hòa bình cho người kế nhiệm.[64] Cuối cùng, Chun nhanh chóng được tổng thống Kim Young-sam ân xá với lý do "thúc đẩy đoàn kết dân tộc" vào ngày 22 tháng 12 năm 1997.[64]

Chính phủ dân sự

 
Tổng thống Kim Dae-jung - người thúc đẩy dân chủ, nhân quyền ở Hàn Quốc cùng các chính sách hòa giải với Bắc Triều Tiên, ông đôi khi được gọi là Nelson Mandela của châu Á
 
Park Geun-hye - nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc

Các cuộc nổi dậy trong thập niên 1980 đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào năm 1992 với đường lối cầm quyền cùng chính sách đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Trước đó, vào năm 1987, Hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi, người dân lại được quyền trực tiếp bầu ra Tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của đất nước. Thủ đô Seoul được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của Hàn Quốc.[65] Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.

Tuy đạt được nhiều tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa, chính trường Hàn Quốc vẫn chưa bao giờ hết khốc liệt hay có dấu hiệu hạ nhiệt, các đời tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-woo (1987), Kim Young-sam (1992) và Kim Dae-jung (1998) đều để lại nhiều dấu ấn với cả tích cực lẫn tiêu cực. Trong đó, vị tổng thống thứ sáu - Roh Tae-woo bị kết án tù vì các tội danh liên quan đến hối lộ, tham nhũng. Tuy vậy, sang đến năm 2000, tổng thống Kim Dae-jung gây tiếng vang lớn khi được trao giải Nobel Hoà Bình vì những nỗ lực trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên.[66] Vào tháng 6 năm 2000, hội nghị thượng đỉnh liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của CHDCND Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi chính sách Ánh Dương với CHDCND Triều Tiên do tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Năm 2003, học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, ông tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 trong khi các cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, do vậy, nhiều người nghi ngờ rằng vụ tự sát này là do sức ép đến từ các thế lực khác.

Sau đó là ông Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, Lee bị bắt giam với cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ Won của Cơ quan Tình báo Quốc gia cùng các doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó còn là những cáo buộc về trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ Won từ một công ty mà Lee bí mật sở hữu. Vào tháng 3 năm 2019, Lee được cho phép tại ngoại vì những lo ngại liên quan đến vấn đề sức khỏe, tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã chính thức ra bản án tuyên phạt ông Lee Myung-bak 17 năm tù giam cùng 13 tỷ Won tiền đền bù.[67]

Tiếp đến là Park Geun-hye (con gái của cựu tổng thống Park Chung-hee), bà là nữ tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại, đồng thời cũng là nữ tổng thống dân cử đầu tiên ở châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này phế truất và bắt giam với các cáo buộc tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà Choi Soon-sil (bạn thân) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.

Như vậy, tính cho đến năm 2018, trong số 11 đời tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền tổng thống chỉ tạm thời đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có 1 người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ.[68] Những vụ bê bối liên quan đến giới chính trị gia hay lãnh đạo các doanh nghiệp kinh tế lớn luôn là một vấn nạn gây ám ảnh, nhức nhối tại quốc gia này[69] bên cạnh sự gia tăng của các loại tội phạm tình dục.[70]

Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận sôi nổi, rộng rãi ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân được tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía CHDCND Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc có các hành động diễn thuyết, tuyên truyền, phát biểu ca ngợi CHDCND Triều Tiên sẽ bị trục xuất khỏi nước này nếu là người nước ngoài[71] hoặc kết án 7 năm tù giam nếu là công dân Hàn Quốc, tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không có sự cho phép của chính phủ có thể bị phạt tối đa lên tới 10 năm tù giam[72][73][74]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi. Tổng thống đương nhiệm Moon Jae-in cũng hy vọng hai miền sẽ tái thống nhất trong hòa bình - sớm nhất là vào năm 2045.[75]

Khôi phục và phát triển kinh tế

Chính sách độc tài khắc khổ

 
Tăng trưởng GNI bình quân đầu người giữa Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên trong giai đoạn từ 1950-2016

Sau chiến tranh Triều Tiên, vào giai đoạn trước khi tướng Park Chung-hee lên nắm quyền vào năm 1961, kinh tế Hàn Quốc khá nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người ít hơn 100 USD mỗi năm. Hàn Quốc thời điểm đó bị xếp hạng là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Ở giai đoạn này, kinh tế Hàn Quốc cơ bản phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ. Khi đó, viện trợ từ chính phủ Mỹ chiếm phần lớn trong tổng ngân sách chính phủ cũng như tổng sản lượng quốc gia (GNP) của Hàn Quốc. Dù cho một số khu vực của đất nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản nhưng nhìn chung vào đầu thập niên 60, Hàn Quốc vẫn là một nước thuần nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển hơn so với CHDCND Triều Tiên - vốn không những rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên[76] mà còn được Liên Xô, Trung Quốc cùng khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa viện trợ, giúp đỡ.

Để xóa bỏ đói nghèo và tái tạo động lực phát triển kinh tế, Park Chung-hee đã thành lập Hội đồng Tối cao phụ trách Tái thiết Quốc gia, mang "kỷ luật quân đội" và chính sách cải cách kinh tế - xã hội kiểu "độc tài" áp dụng trên toàn quốc. Một trong những mục tiêu, tham vọng chính của tướng Park là chấm dứt tình trạng lạc hậu, nghèo đói ở Hàn Quốc và biến đất nước này từ một nền kinh tế thuộc 'Thế giới thứ tư' trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới, ông phát biểu cũng như đặt câu hỏi với các tướng lĩnh cấp dưới; rằng:[77][78]

Ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính để lên nắm chính quyền vào tháng 7 năm 1961, tướng Park Chung-hee tuyên bố bắt đầu tiến trình "dọn rác" để thanh lọc xã hội.[79] Ông trực tiếp chỉ đạo các lực lượng cảnh sát, quân đội thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp, bắt bớ và tiếp tục tái khẳng định quyết tâm của mình khi diễn thuyết trước hơn 20.000 sinh viên của Đại học Seoul bằng loạt câu nói nổi tiếng:

Một trong những việc đầu tiên ông làm là đem tử hình 24 quan chức và doanh nhân vì tội tham nhũng. Toàn xã hội "thắt lưng buộc bụng", trong các công ty, mọi người đều phải làm việc hết sức mình, ai làm không chăm sẽ bị phê bình, mắng nhiếc trước mặt mọi người, thậm chí, trong văn hóa, nội quy của các trường học công ty, doanh nghiệp Hàn Quốc thời bấy giờ có quy định "nếu như học sinh, nhân viên mắc lỗi, làm sai hoặc lười biếng thì giáo viên, cấp trên của họ có quyền tát bạt tai để làm gương mà người đó không được phép tỏ thái độ hay phản đối". Một số ngành do quân đội trực tiếp xây dựng và quản lý, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền trừng phạt bằng đòn roi. Những du học sinh trước khi ra nước ngoài học tập phải cam kết không ở lại nước ngoài mà phải về nước phục vụ dù muốn hay không, những ai đã học xong mà không quay về nước thì gia đình họ sẽ phải chịu những hình phạt nặng nề.

 
Tổng thống Park Chung-hee đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng nền kinh tế Hàn Quốc thông qua chính sách công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu
 
Xưởng đóng tàu của Hyundai ở Ulsan năm 1976

Park chuyển chiến lược kinh tế của đất nước từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Ông thành lập một Ủy ban Kế hoạch Kinh tế để điều hành nền kinh tế đất nước. Lấy những "Kế hoạch kinh tế 5 năm" vốn đã từng rất thành công của Liên Xô trước đây làm kiểu mẫu, Park đề ra "Kế hoạch 5 năm" lần đầu tiên vào năm 1962, nhiệm vụ chủ chốt của kế hoạch này là tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhằm mục đích xuất khẩu. Ông tuyên bố thành phố Ulsan sẽ là một "khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt" của đất nước. Ngay sau đó, Hyundai - một trong những tài phiệt lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh chân tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này thành nơi đặt các nhà máy chính của mình.

Hầu hết các nhà sử học đều coi 'Kế hoạch 5 năm đầu tiên' là điểm cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1966, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc đạt tới 7,6%. Sản lượng công nghiệp xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, sản lượng sản xuất tăng trên 15% mỗi năm. Các chính sách phát triển kinh tế của Park được thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc và mong muốn giành quyền tự chủ cho đất nước do đó; ông chủ trương tự lực, không để cho nền kinh tế Hàn Quốc bị phụ thuộc và chi phối bởi nước ngoài. Ban đầu, ông ra sức hạn chế đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo lời khuyên từ giới chuyên môn, ông bắt đầu dần nới lỏng những hạn chế này, mặc dù vậy, các công ty nước ngoài khi đó muốn đầu tư vào thị trường Hàn Quốc thì bắt buộc phải tiến hành chuyển giao công nghệ ở một mức độ nhất định cho các doanh nghiệp trong nước. Năm 1966, 'Đạo luật kích thích vốn đầu tư nước ngoài' được chính phủ Park thông qua đã cung cấp thêm những ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và hợp lý hóa quy trình đầu tư vào Hàn Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1967-1971) tiếp tục nhấn mạnh hơn vào việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khuyến khích chuyển giao công nghệ và cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước.[80] Từ năm 1973, kinh tế Hàn Quốc đặt trọng tâm chủ yếu vào 7 ngành là thép, hóa chất, luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu, ô tô và điện tử. Giai đoạn phát triển công nghiệp cao độ này tập trung tại các thành phố nhỏ nằm ở phía đông nam đất nước.[81]

Kế hoạch phát triển kinh tế của Park Chung-hee là dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, tiêu dùng hết sức tiết kiệm. Để người lao động có thể sống với mức lương rất thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp bảo hộ, giữ giá những sản phẩm nông nghiệp cũng luôn ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, nền công nghiệp Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu nhưng chỉ để xuất khẩu còn trong nước vẫn dùng TV trắng đen. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, quần áo thời trang cho đến xe hơi cao cấp,... đều bị hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa để nguồn vốn quý giá không bị chảy ra nước ngoài.

Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh rất lớn của tầng lớp lao động. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng triệt để, không có ngoại lệ, từ Tổng thống, quan chức đến dân chúng. Người dân, người lao động Hàn Quốc thời kỳ đó phải làm việc nặng nhọc triền miên và cật lực nhưng đời sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền. Thời gian lao động kéo dài từ 12-14 thậm chí 16 tiếng mỗi ngày với điều kiện lao động kém cùng tiền lương rất thấp. Những phản kháng do tự phát hay có tổ chức của công nhân, nông dân hoặc dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung-hee thẳng tay đàn áp không thương tiếc. Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về lĩnh vực kinh tế học của thời báo Time (Mỹ) nhận định:[82]

Tham chiến tại Nam Việt Nam

 
Lục quân Hàn Quốc đang chiến đấu cùng Hoa Kỳ (1966), tranh vẽ bởi H. Charles McBarron

Mặt khác, theo yêu cầu hỗ trợ của Hoa Kỳ và từ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, Park Chung-hee đã gửi hơn 325.000 quân nhân sang tham chiến cùng với quân đội Mỹ, Việt Nam Cộng hòaKhối đồng minh chống cộng (Úc, New Zealand, Thái Lan, Philippines,...) trong chiến tranh Việt Nam - vừa để nhằm mục đích "nâng cao vị thế quốc gia", hỗ trợ đồng minh Hoa Kỳ trong việc hoàn thành