Wikipedia

Taylor Swift

Nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc và diễn viên người Mỹ

Taylor Alison Swift (sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989) là một nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ. Những sáng tác tự sự, thường lấy cảm hứng từ những trải nghiệm cá nhân của chính bản thân cô, đã nhận được sự phủ sóng rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và những lời khen ngợi từ giới phê bình. Khởi nghiệp tại Nashville, Tennessee, Swift ký hợp đồng với Sony/ATV Tree Publishing vào năm 2002 để trở thành một nhạc sĩ và với Big Machine Records vào năm 2005 để trở thành một ca sĩ nhạc đồng quê.

Taylor Swift
191125 Taylor Swift at the 2019 American Music Awards (cropped).png
Taylor Swift tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mỹ 2019
SinhTaylor Alison Swift
13 tháng 12, 1989 (31 tuổi)
West Reading, Pennsylvania, Hoa Kỳ
Tên khácNils Sjöberg[1][2]
Nghề nghiệp
Tài sản560 triệu đô la Mỹ (ước tính năm 2020)[3]
Cha mẹ
  • Scott Swift (cha)
  • Andrea Swift (mẹ)
Người thân
Giải thưởngDanh sách
Sự nghiệp âm nhạc
Nguyên quánNashville, Tennessee, Hoa Kỳ
Dòng nhạc
Nhạc cụ
Năm hoạt động2004–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websitetaylorswift.com
Chữ ký
Taylor Swift Signature.png

Album phòng thu đầu tay cùng tên của cô (2006) bao gồm các đĩa đơn quán quân Hot Country Songs "Our Song", "Should've Said No" và "Teardrops on My Guitar". Swift trở nên nổi tiếng với album phòng thu thứ hai thuộc thể loại nhạc đồng quê, Fearless (2008), được chứng nhận Kim cương bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) bao gồm các đĩa đơn top 5 "Love Story" và "You Belong with Me". Album phòng thu thứ ba của cô, Speak Now (2010), là sự pha trộn giữa nhạc pop đồng quê với các yếu tố rock và tiếp tục gặt hái thành công vang dội bao gồm các đĩa đơn nằm trong top 10 "Mine" và "Back to December".

Album phòng thu thứ tư của Swift, Red (2012), là sự thử nghiệm vượt ra ngoài khuôn khổ nhạc đồng quê, kết hợp các thể loại nhạc pop, rock và điện tử. Cô hoàn toàn chuyển hướng sang nhạc pop với album phòng thu thứ năm thuộc thể loại synth-pop, 1989 (2014); album phòng thu thứ sáu, Reputation (2017), mở rộng sang dòng nhạc electropop với những âm hưởng của urban. Swift phát hành album phòng thu tiếp theo của mình, Lover, vào năm 2019, trong khi cô đang vướng vào một cuộc tranh chấp về quyền sở hữu các ca khúc sau khi hợp đồng của cô với Big Machine hết hạn. Cô đã thử nghiệm indie folkalternative rock trong các album phòng thu năm 2020, FolkloreEvermore. Sáu album này tạo ra một chuỗi các đĩa đơn lọt top 10 quốc tế, bao gồm "We Are Never Ever Getting Back Together", "I Knew You Were Trouble", "Shake It Off", "Blank Space", "Bad Blood", "Look What You Made Me Do", "Me!", "You Need to Calm Down", "Cardigan" và "Willow". Cô cũng phát hành những bộ phim tài liệu Miss AmericanaFolklore: The Long Pond Studio Sessions vào năm 2020.

Với doanh số hơn 200 triệu đĩa trên toàn thế giới, Swift là một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất. Các giải thưởng của cô bao gồm 11 giải Grammy (trong đó có 3 giải Album của năm), 1 giải Emmy, 2 giải Brit, 11 giải Video âm nhạc của MTV (trong đó có 2 giải Video của năm), 12 giải thưởng của Hiệp hội âm nhạc đồng quê, 25 giải thưởng Âm nhạc Billboard (nhiều nhất của một nghệ sĩ nữ), 35 kỷ lục Guinness Thế giới và 32 giải thưởng Âm nhạc Mỹ (nghệ sĩ giành được nhiều chiến thắng nhất). Cô đứng thứ tám trên Bảng xếp hạng nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại của Billboard (2019) và được liệt kê trong danh sách 100 nhạc sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại của Rolling Stone (2015). Swift được đưa vào nhiều bảng xếp hạng quyền lực khác nhau, chẳng hạn như danh sách hàng năm của Time về 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới (2010, 2015 và 2019) và Forbes Celebrity 100 (xếp thứ nhất vào năm 2016 và 2019). Cô được Billboard vinh danh là Người phụ nữ của thập kỷ (thập niên 2010) và Nghệ sĩ của thập kỷ (thập niên 2010) bởi Giải thưởng Âm nhạc Mỹ, đồng thời cũng được công nhận vì những nỗ lực thiện nguyện và vận động quyền phụ nữ.[4]

Cuộc đời và sự nghiệp

1989–2003: Những năm thiếu thời

 
Ngôi nhà thời thơ ấu của Swift ở Wyomissing, Pennsylvania

Taylor Swift sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989 tại Reading, Pennsylvania.[5] Cha cô là Scott Kingsley Swift, làm nghề môi giới chứng khoán và mẹ cô là Andrea Gardner (nhũ danh Finlay) Swift, làm nội trợ, từng là giám đốc tài chính cho quỹ hỗ trợ.[6] Swift còn có một người em trai tên là Austin.[7] Swift có một khoảng thời gian sống tại đồn điền cây thông Giáng sinh ở Cumru Township, Pennsylvania.[8] Cô bắt đầu đi nhà trẻ tại Trường Alvernia Montessori do những nữ tu sĩ dòng Fran-xít điều hành,[9] sau đó vào học Trường tư Wyndcroft.[10] Cả gia đình cô sau đó chuyển đến khu ngoại ô Wyomissing, Pennsylvania,[11] nơi cô theo học Trường Trung học Cơ sở/ Phổ thông Vùng Wyomissing.[12]

Năm lên 9, Swift trở nên thích thú trước sân khấu kịch nghệ và tham gia biểu diễn trong 4 chương trình của Học viện sân khấu Berks Youth.[13] Cô cũng thường xuyên đến thành phố New York để tham gia lớp luyện giọng và diễn xuất.[14] Swift sau đó bộc lộ niềm đam mê đến dòng nhạc đồng quê bởi những bài hát của Shania Twain cứ khiến cô "muốn chạy nhảy quanh khu phố và mơ mộng về mọi thứ".[15] Cô dành thời gian cuối tuần để trình diễn tại hội chợ địa phương và các sự kiện khác.[16][17] Sau khi xem một đoạn phim tư liệu về Faith Hill, Swift quyết định đến Nashville, Tennessee để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc.[18] Năm 11 tuổi, cô cùng mẹ đến Nashville để gửi băng thu thử đến các hãng thu âm, bao gồm các bản trình diễn karaoke bài hát của Dolly PartonDixie Chicks.[19] Sau khi bị nhiều nơi từ chối, cô nhận ra "mọi người ở đó đều có mục tiêu giống như tôi. Thế nên, tôi tự hỏi chính mình, tôi cần phải nghĩ ra một hướng đi khác biệt".[20]

Khi Swift lên 12 tuổi, một người thợ máy tính đã dạy cô chơi 3 hợp âm đàn guitar, giúp cô sáng tác nên bài hát đầu tiên "Lucky You".[21] Vào năm 2003, Swift và cha mẹ cô bắt đầu hợp tác cùng nhà quản lý âm nhạc Dan Dymtrow. Với sự hỗ trợ của Dymtrow, Swift làm người mẫu cho hãng Abercrombie & Fitch trong chiến dịch "Rising Stars", có một bài hát gốc xuất hiện trong CD tổng hợp của nhãn hàng Maybelline và tham gia nhiều cuộc họp cùng các hãng thu âm lớn.[22] Sau khi trình diễn nhiều bài hát tự sáng tác cho RCA Records, hãng quyết định giữ cô trong một thỏa thuận phát triển nghệ sĩ và Swift bắt đầu thực hiện nhiều chuyến đi đến Nashville cùng mẹ.[23][24]

Nhằm giúp Swift thâm nhập vào làng nhạc đồng quê, cha cô chuyển về văn phòng tại Nashville khi cô 14 tuổi và gia đình cô định cư tại một căn nhà bên hồ ở Hendersonville, Tennessee.[25][26] Tại Tennessee, Swift nhập học tại Trường trung học Hendersonville trong hai năm đầu.[27] Sau đó, cô chuyển về Aaron Academy, một ngôi trường Công giáo cho phép học tại nhà, để cùng lúc dàn xếp lịch lưu diễn. Cô đạt điểm trung bình 4.0 và hoàn tất 2 năm học cuối cấp trong vòng 12 tháng.[28]

2004–2008: Khởi đầu sự nghiệp và Taylor Swift

Tại Nashville, Swift làm việc cùng những nhạc sĩ nhiều kinh nghiệm từ Music Row như Troy Verges, Brett Beavers, Brett James, Mac McAnallyThe Warren Brothers.[29][30] Sau cùng, cô bắt tay với cộng tác viên lâu dài Liz Rose.[31] Cả hai gặp gỡ trong một buổi luyện sáng tác kéo dài 2 tiếng vào mỗi buổi chiều thứ Ba sau giờ học.[32] Rose chia sẻ một vài buổi tập luyện "là điều dễ dàng nhất tôi từng thực hiện. Tôi chỉ là người biên tập lại cho cô ấy. Cô bé viết về những gì diễn ra ở trường mỗi ngày. Cô có một tầm nhìn sáng sủa về những gì mình cố truyền đạt. Và cô ấy nghĩ ra những đoạn hook tuyệt vời." Swift ký kết với nhà xuất bản Sony/ATV Tree[33] nhưng rời khỏi RCA Records năm 14 tuổi.[17] Swift nhớ lại: "Tôi cảm thấy như mình sắp hết thời gian. Tôi muốn ghi dấu 3 năm cuộc đời bằng một album trong lúc chúng vẫn còn thể hiện những gì tôi đã trải qua."[34]

 
Taylor Swift trình diễn tại trụ sở Yahoo!Sunnyvale, California vào năm 2007

Trong một đêm diễn tại Bluebird Cafe, Nashville năm 2005, Swift thu hút sự chú ý của Scott Borchetta, giám đốc hãng DreamWorks Records, lúc ông chuẩn bị thành lập hãng thu âm độc lập Big Machine Records. Cô trở thành một trong những người đầu tiên ký kết cùng hãng, trong khi cha cô mua lại 3% cổ phần trong công ty còn non trẻ này với giá tiền ước tính 120.000 đô la Mỹ.[35][36] Swift bắt đầu thực hiện album cùng tên đầu tay không lâu sau khi ký hợp đồng. Cô thuyết phục hãng Big Machine thuê lại nhà sản xuất các bản thu thử của cô, Nathan Chapman vì cảm thấy cả hai làm việc một cách "ăn ý".[17] Swift tự sáng tác 3 bài hát trong album, trong đó có 2 đĩa đơn và đồng sáng tác 8 bài hát còn lại cùng Rose, Robert Ellis Orrall, Brian Maher và Angelo Petraglia.[37] Taylor Swift ra mắt ngày 24 tháng 10 năm 2006.[38] Jon Caramanica từ The New York Times mô tả album là "một kiệt tác nhỏ bé của dòng nhạc đồng quê mang hơi hướng pop" cùng chất giọng "rắn rỏi và truyền cảm" của Taylor.[39] Tính đến tháng 8 năm 2016, album đã bán hơn 7,75 triệu bản trên toàn cầu.[40]

Hãng Big Machine Records vẫn còn trong giai đoạn hình thành trong lúc phát hành đĩa đơn đầu tay của Swift, "Tim McGraw" vào tháng 6 năm 2006, lúc cô và mẹ phải giúp "gói CD đĩa đơn vào phong bì để gửi đến trạm phát thanh".[41] Cô dành hầu hết năm 2006 để quảng bá Taylor Swift tại các trạm phát thanh và nhiều chương trình truyền hình.[42][43] Borchetta cho rằng quyết định hợp tác cùng một ca sĩ tự sáng tác mới 16 tuổi ban đầu gây nhiều sự tò mò từ giới thu âm nhưng Swift lại bước chân vào một thị trường chưa từng được khai thác trước đây: những cô gái thiếu niên thích nghe nhạc đồng quê.[25] Theo sau "Tim McGraw", 4 đĩa đơn khác cũng được phát hành trong năm 2007 và 2008 gồm "Teardrops on My Guitar", "Our Song", "Picture to Burn" và "Should've Said No". Tất cả đều đạt thành công trên bảng xếp hạng Billboard Hot Country Songs, riêng "Our Song" và "Should've Said No" giành được ngôi quán quân. "Our Song" giúp Swift trở thành người trẻ tuổi nhất có bài hát tự sáng tác vươn đến vị trí số 1 tại bảng xếp hạng này.[44] "Teardrops on My Guitar" trở thành bài hát pop ăn khách; vươn đến vị trí thứ 13 trên Billboard Hot 100.[45] Swift cũng phát hành một album Giáng sinh, Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection vào tháng 10 năm 2007 và EP Beautiful Eyes vào tháng 7 năm 2008.[46][47] Cô còn quảng bá cho album này tại nhiều buổi hòa nhạc của nghệ sĩ khác.[48]

Taylor Swift mang về cho Swift nhiều giải thưởng. Cô là một trong hai người nhận giải "Tác giả/Nghệ sĩ của năm" do Hiệp hội nhạc sĩ Nashville trao tặng vào năm 2007, trở thành người trẻ tuổi nhất giành được danh hiệu này.[49] Cô cũng giành giải Kinh nghiệm cho "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" bởi Hiệp hội Âm nhạc đồng quê,[50] giải "Ca sĩ nữ mới hàng đầu" của Viện Hàn lâm Nhạc đồng quê[51] và "Nữ nghệ sĩ đồng quê được yêu thích" tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ.[52] Năm 2008, cô được đề cử giải Grammy cho "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất".[53] Swift có mối quan hệ ngắn ngủi cùng ca sĩ kiêm diễn viên Joe Jonas từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2008.[54][55]

2008–2010: Fearless và diễn xuất

Album phòng thu thứ hai của Swift, Fearless phát hành ngày 11 tháng 11 năm 2008.[38] Đĩa đơn đầu tiên, "Love Story" phát hành vào tháng 9 năm 2008, vươn đến vị trí thứ 4 trên Billboard Hot 100[56] và hạng nhất tại Úc.[57] Có 4 đĩa đơn khác được ra mắt trong năm 2008 và 2009 gồm "White Horse", "You Belong with Me", "Fifteen" và "Fearless". "You Belong with Me" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của album này, chạm đến vị trí thứ 2 trên Billboard Hot 100.[58] Fearless đạt vị trí số 1 trên Billboard 200, trở thành album bán chạy nhất năm 2009 tại Mỹ.[59] Để quảng bá cho album, Swift thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên mang tên Fearless Tour,[60] thu về 63 triệu đô-la Mỹ.[61] Bộ phim tài liệu lưu diễn Taylor Swift: Journey to Fearless lên sóng truyền hình và được ra mắt trên định dạng DVD và Blu-ray.[62] Ngoài ra, cô cũng trình diễn tại Escape Together World Tour của Keith Urban.[63]

 
Taylor tại buổi công chiếu Hannah Montana: The Movie vào năm 2009

Tại mùa giải Video âm nhạc của MTV năm 2009, "You Belong with Me" giành giải "Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ".[64] Bài phát biểu nhận giải của Swift bị rapper Kanye West cắt ngang.[65] Vụ việc nhận được sự chú ý của giới truyền thông và là hiện tượng lan truyền trên mạng xã hội.[66] James Montgomery của MTV cho rằng chính sự cố này và phản ứng của giới truyền thông biến Swift trở thành "một người nổi tiếng đầy thiện ý".[67]

Tại giải Grammy lần thứ 52, Fearless thắng giải "Album nhạc đồng quê của năm" và giúp Swift trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành giải "Album của năm", trong khi "White Horse" giành thêm 2 giải cho "Bài hát nhạc đồng quê xuất sắc nhất" và "Trình diễn nhạc đồng quê giọng nữ xuất sắc nhất".[68] Trong buổi trao giải, cô trình bày "You Belong with Me" và "Rhiannon" cùng Stevie Nicks. Giọng hát của cô nhận nhiều phản hồi tiêu cực và bị giới truyền thông chỉ trích.[67][69][70] Swift là nghệ sĩ trẻ nhất đoạt giải Hiệp hội âm nhạc đồng quê cho "Nhà giải trí của năm",[71] trong khi Fearless giành giải "Album của năm".[72] Giải thưởng Âm nhạc Mỹ vinh danh Taylor trong hạng mục "Nghệ sĩ của năm" và "Album đồng quê được yêu thích nhất".[73] Billboard trao cho Swift giải "Nghệ sĩ của năm" 2009.[74]

Swift xuất hiện trong đĩa đơn "Half of My Heart" cùng John Mayer trong album phòng thu Battle Studies.[75] Cô đồng sáng tác và thu âm "Best Days of Your Life" với Kellie Pickler,[76] trong khi góp giọng trong đĩa đơn "Two Is Better Than One" của Boys Like Girls.[77] Swift cũng đồng sáng tác hai bài hát nữa cho nhạc phim Hannah Montana: The Movie—"You'll Always Find Your Way Back Home" và "Crazier"—lần lượt với Martin Johnson và Robert Ellis Orrall.[78] Cô đóng góp 2 bài hát—bao gồm "Today Was a Fairytale", đĩa đơn quán quân đầu tiên của cô tại Canadian Hot 100—trong album nhạc phim Valentine's Day.[79][80]

Swift chuyển sang truyền hình trong một tập phim năm 2009 của CSI: Crime Scene Investigation, vào vai một thiếu niên nổi loạn. The New York Times nhận thấy nhân vật này cho phép cô trở nên "nghịch ngợm đôi chút".[81] Cuối năm đó, cô chủ trì và trình diễn với vai trò khách mời trong một tập Saturday Night Live.[82] Entertainment Weekly gọi cô là "nhà chủ trì tuyệt nhất Saturday Night Live mùa này".[83] Trong lúc ghi hình cho Valentine's Day vào tháng 10 năm 2009—vai diễn điện ảnh đầu tiên của Swift—cô hẹn hò cùng nam diễn viên Taylor Lautner. Họ chia tay vào cuối năm đó.[84][85] Trong bộ phim hài lãng mạn này, Swift hóa thân vào một cô bạn gái thiếu niên ngốc nghếch, vai diễn mà Los Angeles Times cảm thấy "có tiềm năng hài hước rất lớn",[86] trong khi tờ Variety lại chỉ trích "diễn xuất hoàn toàn vô hướng" của cô.[87] Cuối năm 2010, cô hẹn hò với Jake Gyllenhaal.[88]

2010–2014: Speak NowRed

Tháng 8 năm 2010, Swift phát hành "Mine", mở đầu tại Hoa Kỳ ở vị trí thứ 3, giúp cô là nữ nghệ sĩ thứ hai trong lịch sử Hot 100 (sau Mariah Carey) có nhiều bài hát mở màn top 5 trong cùng một năm, cùng với "Today Was a Fairytale".[89] Bài hát này là đĩa đơn đầu tiên trích từ album phòng thu thứ ba, Speak Now bao gồm toàn bộ bài hát do cô tự sáng tác mà không có đồng tác giả.[90] Album phát hành ngày 25 tháng 10 năm 2010,[38] dẫn đầu Billboard 200 với doanh số mở màn 1 triệu bản, là album thứ 16 làm được điều này.[91] Sau đó, đây là album kỹ thuật số bán chạy nhất bởi một nữ nghệ sĩ với 278.000 lượt tải trong một tuần lễ. Với thành tích này, Swift góp mặt vào Sách Kỷ lục Guinness Thế giới 2010; cô còn xuất hiện trong quyển sách khi 10 bài hát của Speak Now lọt vào Billboard Hot 100, giúp cô là nữ nghệ sĩ đầu tiên nắm giữ danh hiệu này.[92][93] 3 trong số các đĩa đơn của album—"Mine", "Back to December" và "Mean"—vươn đến top 10 ở Canada.[80]

Tại giải Grammy lần thứ 54, "Mean" mang về cho Swift giải "Bài hát đồng quê xuất sắc nhất" và "Trình diễn đơn ca đồng quê xuất sắc nhất".[94] Cô cũng trình bày bài hát này trong lễ trao giải,[95] nơi Jayme Deerwester từ USA Today cảm thấy những lời chỉ trích từ năm 2010 dường như đã giúp cô "trở thành một nhạc sĩ và nhà trình diễn tốt hơn".[96] Swift còn giành nhiều giải thưởng khác cho Speak Now, được vinh danh là "Nhạc sĩ/Nghệ sĩ của năm" bởi Hiệp hội tác giả Nashville (2010 và 2011),[97][98] "Người phụ nữ của năm" bởi Billboard (2011),[99] "Nhà giải trí của năm" bởi Học viện Âm nhạc đồng quê (2011 và 2012)[100] và Hiệp hội Âm nhạc đồng quê (2011).[101] Tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2011, Swift thắng giải "Nghệ sĩ của năm" và "Album đồng quê được yêu thích nhất".[102]

 
Taylor Swift trình diễn trong Speak Now World Tour tại Sydney vào năm 2012

Swift lưu diễn trong Speak Now World Tour từ tháng 2 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012, thu về 123 triệu đô-la Mỹ.[103] Album trực tiếp đầu tiên của Swift, Speak Now World Tour: Live phát hành vào tháng 11 năm 2011.[104] Tháng sau, Swift đóng góp 2 bài hát cho album nhạc phim The Hunger Games "—"Safe & Sound" và "Eyes Open". "Safe & Sound", do cô đồng sáng tác và thu âm cùng The Civil WarsT-Bone Burnett, giành chiến thắng ở hạng mục "Bài hát sáng tác cho phương tiện truyền thông xuất sắc nhất" tại giải Grammy lần thứ 55[105] và mang về một đề cử giải Quả cầu vàng cho "Ca khúc trong phim hay nhất".[106] Sau khi góp giọng trong đĩa đơn "Both of Us" của B.o.B,[107] Swift hẹn hò với Conor Kennedy từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2012.[108] Tháng 8, Swift ra mắt "We Are Never Ever Getting Back Together"—đĩa đơn đầu tiên từ album phòng thu thứ tư, Red. Bài hát gặt hái thành công trên toàn cầu, đánh dấu vị trí quán quân đầu tiên của Taylor ở Hoa Kỳ và New Zealand,[109][110] đồng thời đạt hạng nhất trên bảng xếp hạng iTunes chỉ sau 50 phút ra mắt, trở thành "Đĩa đơn bán chạy nhanh nhất lịch sử kỹ thuật số" trong quyển Sách Kỷ lục Guinness Thế giới.[111] Swift công bố đĩa đơn thứ hai, "Begin Again" vào tháng 10, đạt hạng 7 trên Billboard Hot 100.[112] Các đĩa đơn khác trích từ album bao gồm: "I Knew You Were Trouble", "22", "Everything Has Changed", "The Last Time" và "Red". "I Knew You Were Trouble" cũng là một thành công,[113] khi vươn đến hạng hai ở Hoa Kỳ.[112]

Red phát hành ngày 22 tháng 10 năm 2012.[38] Album đạt thành công về thương mại lẫn chuyên môn, sáp nhập nhiều thể loại mới, bao gồm heartland rock, dubstepdance-pop.[15] Red mở đầu tại vị trí quán quân Billboard 200 với 1,21 triệu bản, lượng doanh số ở tuần ra mắt cao nhất trong một thập niên, giúp Swift là nữ nghệ sĩ đầu tiên có hai album bán trên một triệu bản trong tuần lên kệ, một kỷ lục được ghi nhận trong Sách Kỷ lục Guinness Thế giới.[114][115] Để quảng bá cho album, cô thực hiện chuyến lưu diễn The Red Tour, kéo dài từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014, thu về 150 triệu đô-la Mỹ.[116] Red mang về nhiều giải thưởng, bao gồm 4 đề cử tại giải Grammy lần thứ 55.[117] "I Knew You Were Trouble" thắng giải "Video xuất sắc nhất của nữ nghệ sĩ" tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2013.[118] Giải thưởng Âm nhạc Mỹ vinh danh cô là "Nữ nghệ sĩ đồng quê xuất sắc nhất" vào năm 2012 và "Nghệ sĩ của năm" tại lễ trao giải năm 2013.[119][120] Swift thắng giải "Nhạc sĩ/Nghệ sĩ của năm" của Hiệp hội tác giả Nashville lần thứ 5 và 6 liên tiếp vào năm 2012 và 2013.[121] Hiệp hội còn trao Swift giải Pinnacle bởi những thành công "độc nhất" của cô, giúp cô trở thành người thứ hai nhận giải sau Garth Brooks.[122]

Trong năm 2013, Swift đồng sáng tác "Sweeter Than Fiction" cùng Jack Antonoff cho nhạc phim One Chance và giành một đề cử "Bài hát trong phim hay nhất" tại mùa giải Quả cầu vàng lần thứ 71.[123] Cô góp giọng trong bài hát "Highway Don't Care" của Tim McGraw cùng phần guitar của Urban.[124] Taylor trình bày "As Tears Go By" với The Rolling Stones tại Chicago trong chuyến lưu diễn 50 & Counting.[125] Cô còn tham gia cùng Florida Georgia Line trên sân khấu Country Radio Seminar 2013 để trình diễn ca khúc "Cruise".[126] Bên cạnh âm nhạc, Swift lồng tiếng cho nhân vật Audrey trong The Lorax (2012),[127] xuất hiện trong loạt phim hài kịch tình huống New Girl (2013)[128] và tham gia bộ phim The Giver (2014).[129] Cô có mối quan hệ tình cảm cùng Harry Styles từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 1 năm 2013.[130]

2014–2017: 1989

Vào tháng 3 năm 2014, Swift chuyển đến Thành phố New York.[131] Trong thời gian này, cô thực hiện album phòng thu thứ 5, 1989 với các đồng sự Antonoff, Martin, Shellback, Imogen Heap, Ryan Tedder và Ali Payami.[132] Cô quảng bá album này trong nhiều chiến dịch, bao gồm những buổi nghe album dành cho người hâm mộ, mang tên "1989 Secret Sessions".[133] Được Swift mô tả là "album mang tư liệu pop chính thức đầu tiên", 1989 đánh dấu sự thay đổi so với những album nhạc đồng quê trước đây.[134] 1989 ra mắt ngày 27 tháng 12 năm 2014 cùng những đánh giá tích cực.[38][135]

 
Taylor Swift trình diễn trong The 1989 World Tour vào tháng 6 năm 2015

1989 bán được 1.287 triệu bản trong tuần đầu tại Hoa Kỳ và mở màn ở vị trí đầu tiên trên Billboard 200—giúp Swift là nghệ sĩ đầu tiên có 3 album bán hơn 1 triệu bản trong tuần lên kệ, xuất hiện trong Sách Kỷ lục Guinness Thế giới.[136][137] Tính đến tháng 2 năm 2015, 1989 tiêu thụ hơn 8,6 triệu bản trên toàn cầu.[138] Đĩa đơn đầu tiên, "Shake It Off" phát hành vào tháng 8 năm 2014 và mở đầu tại ngôi quán quân Billboard Hot 100.[139] Các đĩa đơn khác bao gồm "Blank Space" và "Bad Blood" (hợp tác với Kendrick Lamar) cùng giành được ngôi vị cao nhất tại Hoa Kỳ;[140] "Style" và "Wildest Dreams" đạt đến top 10 Billboard Hot 100;[141] "Out of the Woods" và "New Romantics".[142] "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood" cũng dẫn đầu tại ÚcCanada.[57][80] Video âm nhạc của "Blank Space" trở thành video đạt 1 tỷ lượt xem nhanh nhất trên hệ thống Vevo.[143] Video âm nhạc của "Bad Blood" thắng giải Grammy cho "Video âm nhạc xuất sắc nhất"[144] và 4 giải Video âm nhạc của MTV năm 2015, bao gồm hạng mục "Video của năm".[145] Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2015, Swift thực hiện chuyến lưu diễn The 1989 World Tour, thu về 250 triệu đô-la Mỹ và lọt vào danh sách đạt doanh thu cao nhất thập niên.[146]

Vào năm 2014, Swift là nghệ sĩ đầu tiên 2 lần giành giải "Người phụ nữ của năm" của tạp chí Billboard[147] và được vinh danh giải Dick Clark for Excellence tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ.[148] "Shake It Off" mang về 3 đề cử tại giải Grammy lần thứ 57, trong đó có "Thu âm của năm" và "Bài hát của năm".[149] Tại giải Brit 2015, Swift thắng giải "Nữ nghệ sĩ quốc tế".[150] Cô cũng là một trong 8 nghệ sĩ được vinh danh Giải cột mốc 50 năm tại Giải thưởng Hàn lâm nhạc Đồng quê 2015.[151] Tại giải Grammy lần thứ 58, Swift thắng 3 giải cho 1989, trong đó có "Album của năm" và "Album giọng pop xuất sắc nhất". Cô trở thành người phụ nữ đầu tiên—và là người thứ năm trong lịch sử—thắng giải "Album của năm" hai lần.[152]

Đầu năm 2016, công ty cổ phần và quản lý quyền sở hữu trí tuệ của Swift, TAS Rights Management, công chứng 73 thương hiệu liên quan đến cô và 1989.[153] Trước khi ra mắt 1989, Swift nhấn mạnh tầm quan trọng của album đến nghệ sĩ và người hâm mộ.[154] Tháng 11 năm 2014, cô thu hồi lại toàn bộ các đĩa nhạc trên hệ thống Spotify, cho rằng dịch vụ streaming miễn phí có quảng cáo của hãng này làm tổn hại đến dịch vụ trả phí, cung cấp hoa hồng cao hơn cho các tác giả.[155] Vào tháng 6 năm 2015, Swift chỉ trích hãng Apple Music vì hãng không trả tiền khoan hồng cho nghệ sĩ trong thời gian 3 tháng dùng thử của khách hàng và khẳng định sẽ rút album 1989 ra khỏi hệ thống này.[156] Một ngày sau, Apple thông báo sẽ trả đầy đủ phí đến nghệ sĩ trong thời gian dùng thử[157] và Swift đồng ý đưa 1989 vào dịch vụ này.[158] Ngày 9 tháng 6 năm 2017, Taylor tái phát hành toàn bộ đĩa nhạc tại các hệ thống âm nhạc streaming, bao gồm Spotify, Tidal, AmazonPandora, sau nhiều năm thu hồi.[159] Trong tuần trở lại đầu tiên, 4 trong số các album phòng thu của cô trở lại Billboard 200;[160] các bài hát đạt 47,51 triệu lượt nghe trực tuyến, thu về lợi nhuận tác quyền 400.000 đô-la Mỹ.[161]

Trong bữa tiệc Saturday Night Live 40th Anniversary Special, Swift trình bày "I Saw Her Standing There" và "Shake It Off" cùng với Paul McCartney[162] và cùng Kenny Chesney hát "Big Star" trong đêm mở màn chuyến lưu diễn Big Revival Tour tại Nashville.[163] Tháng 3 năm 2015, Taylor hẹn hò cùng DJ và nhà sản xuất người Scotland Calvin Harris.[164] Đến tháng 6 năm 2015, đây là cặp đôi người nổi tiếng được trả thù lao cao nhất năm do Forbes tổng hợp, với số tiền vượt 146 triệu đô-la Mỹ.[165] Tháng 8, Taylor công bố về căn bệnh ung thư của mẹ mình và khuyến khích mọi người thực hiện kiểm tra sức khỏe.[166] Trước khi Swift và Harris chia tay vào tháng 6 năm 2016,[167] họ đồng sáng tác "This Is What You Came For", nơi cô tham gia dưới nghệ danh Nils Sjöberg.[168] Tháng 10, cô sáng tác "Better Man" cho album thứ bảy của nhóm Little Big Town, The Breaker.[169] Hai tháng sau, Swift và Zayn Malik cùng nhau phát hành đĩa đơn "I Don't Wanna Live Forever", nằm trong album nhạc phim Fifty Shades Darker (2017).[170]

2017–2018: Reputation

Vào tháng 8 năm 2017, Swift đã kiện và giành phần thắng trong một vụ kiện dân sự với David Mueller, người từng là một dẫn chương trình cho đài KYGO-FMDenver. Bốn năm trước đó, Swift đã thông báo với những người chủ của Muller rằng anh ta đã có hành vi tấn công tình dục với cô bằng cách đụng chạm vào người cô. Trước khi bị đuổi việc, Mueller đã tố cáo Swift là kẻ dối trá và kiện cô vì khiến anh ta mất việc. Một thời gian ngắn sau đó, Swift kiện ngược lại Muller vì tội tấn công tình dục. Ban bồi thẩm đã bác bỏ những thanh minh từ phía Muller và thay vào đó nghiêng về phía Swift.[171] Sau đó cô xóa toàn bộ nội dung trên các tài khoản mạng xã hội của mình[172] và phát hành "Look What You Made Me Do" dưới dạng đĩa đơn mở đường cho album phòng thu thứ sáu, Reputation.[173] Đĩa đơn đạt vị trí đầu bảng tại Úc, Ireland, New Zealand, Anh Quốc và Hoa Kỳ.[174][175] Video âm nhạc cho bài hát đạt 43.2 triệu views trong ngày đầu tiên được ra mắt trên YouTube, phá kỉ lục của trang web về video âm nhạc có lượng lượt xem trong 24 giờ đầu cao nhất.[176] Vào tháng 10, Taylor phát hành đĩa đơn thứ hai từ album, "...Ready for It?",[177] đạt hạng ba tại Úc và hạng bốn tại Hoa Kỳ.[175][178]

Hai đĩa đơn quảng bá đã được phát hành từ Reputation, "Gorgeous" và "Call It What You Want"; trong đó "Gorgeous" được phát hành làm đĩa đơn thứ năm từ album, nhưng chỉ được phát hành ở châu Âu.[179] Album ra mắt ngày 10 tháng 11 năm 2017, tiêu thụ đạt 1.216 triệu bản trong tuần đầu phát hành tại Hoa Kỳ—trở thành album có lượng tiêu thụ cao nhất (doanh số thuần) tại nước này trong năm 2017—và 2 triệu bản trong tuần đấu phát hành trên toàn thế giới.[180] Album đứng đầu bảng xếp hạng tại rất nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc và Canada.[181][182] Cuối tháng đó, Taylor đã trình diễn "...Ready for It?" và "Call It What You Want" trên Saturday Night Live.[183] "End Game", hợp tác với Ed Sheeran đạt vị trí thứ 18 tại Hoa Kỳ.[184] Các đĩa đơn tiếp theo trong album được phát hành là "New Year's Day" và "Delicate"; riêng "New Year's Day" chỉ được phát hành trên các đài radio nhạc đồng quê.[185]

Để quảng bá cho Reputation, Swift đã tham gia chuyến lưu diễn Taylor Swift's Reputation Stadium Tour trong năm 2018.[186] Vào tháng 4 năm 2018, Swift đã hợp tác cùng ban nhạc Sugarland cho đĩa đơn "Babe" từ album Bigger của họ.[a]

2018–2020: Lover và tranh chấp quyền sở hữu tác phẩm

Swift phát hành album phòng thu thứ bảy của mình, Lover, vào ngày 23 tháng 8 năm 2019.[188] Lover là album thứ sáu liên tiếp của Swift bán được hơn 500.000 bản trong một tuần, đưa Swift trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên làm được điều này.[189] Tất cả 18 bài hát trong album đều lọt vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong cùng một tuần, lập kỷ lục của nghệ sĩ nữ.[190] Đây là album phòng thu bán chạy nhất thế giới năm 2019 với 3,2 triệu bản.[191] Ba đĩa đơn trước khi phát hành album: "Me!", "You Need to Calm Down" và "Lover", tất cả đều lọt vào top 10 Billboard Hot 100. "Me!" ra mắt ở vị trí thứ 100 và vươn lên vị trí thứ hai chỉ một tuần sau đó, tạo ra bước nhảy vọt trong một tuần lớn nhất lịch sử bảng xếp hạng.[192] Tại lễ trao giải MTV Video Music Awards 2019, "Me!" đoạt giải Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất và "You Need to Calm Down" đoạt giải Video của năm và Video hay nhất. Swift là nghệ sĩ nữ đầu tiên và nghệ sĩ thứ hai giành giải Video của năm.[193] Liên đoàn Công nghiệp thu âm quốc tế (IFPI) vinh danh Swift là nghệ sĩ bán chạy nhất thế giới năm 2019. Điều này khiến Swift trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên hai lần giành được vinh dự này; trước đó là vào năm 2014.[194]

Tại American Music Awards 2019, Swift đã giành được sáu giải thưởng, bao gồm Nghệ sĩ của năm và Nghệ sĩ của thập kỷ.[195] Swift thủ vai Bombalurina trong bộ phim chuyển thể từ vở nhạc kịch Cats của Andrew Lloyd Webber (2019).[196] Cô đã thu âm và phát hành "Beautiful Ghosts", một bài hát gốc mà cô cùng Webber viết cho nhạc phim vào tháng 11 năm 2019. Mặc dù các nhà phê bình đánh giá bộ phim một cách tiêu cực, vai diễn của Swift đã nhận được phản hồi tích cực. Bộ phim tài liệu Miss Americana, tường thuật lại một phần cuộc đời và sự nghiệp của Swift, được công chiếu lần đầu tại Liên hoan phim Sundance 2020 và được phát hành trên Netflix vào ngày 31 tháng 1.[197][198] Phim tài liệu có bài hát "Only the Young", mà Swift đã viết sau cuộc bầu cử năm 2018 của Hoa Kỳ.[199] Vào tháng 2 năm 2020, Swift ký hợp đồng độc quyền toàn cầu với Universal Music Publishing Group, sau khi hợp đồng 16 năm của cô với Sony/ATV Music Publishing hết hạn.[200]

Trong quá trình quảng bá Lover vào năm 2019, Swift bị vướng vào một cuộc tranh chấp với người quản lý tài năng Scooter Braun và công ty cũ Big Machine, liên quan đến việc mua lại quyền sở hữu các ca khúc trước đó của cô.[201] Swift phát biểu trên blog Tumblr của mình rằng cô đang cố gắng mua lại các bản chính trong nhiều năm, nhưng Big Machine chỉ cho phép cô làm như vậy nếu cô đổi một album mới lấy một album cũ hơn theo bản hợp đồng mà cô không chấp nhận.[201][202] Vào tháng 4 năm 2020, Big Machine phát hành Live from Clear Channel Stripped 2008, một album trực tiếp các buổi biểu diễn của Swift tại một chương trình phát thanh vào năm 2008, mà Swift đã không cho phép phát hành.[203] Vào tháng 10, Braun đã bán quyền sở hữu các ca khúc, video và tác phẩm nghệ thuật của Swift cho Shamrock Holdings với giá 300 triệu USD.[204] Swift bắt đầu lấy lại những bài hát của mình vào tháng 11 năm 2020.[205]

2020–nay: Folklore, Evermore và công việc tái thu âm

Swift đã phát hành hai album bất ngờ với ít những hoạt động quảng bá vào năm 2020, nhận được sự hoan nghênh từ giới phê bình.[206] Album phòng thu thứ tám của cô Folklore, được phát hành vào ngày 24 tháng 7.[207] Album phòng thu thứ chín của cô Evermore, được phát hành vào ngày 11 tháng 12.[208] Swift đã viết và thu âm các album trong giai đoạn giãn cách xã hội do đại dịch COVID-19, làm việc với nhà sản xuất thu âm Jack Antonoff và Aaron Dessner từ The National. Cả hai album đều có sự hợp tác với Bon Iver, riêng Evermore có sự hợp tác với The National và Haim.[209] Joe Alwyn, bạn trai của Swift, đồng sáng tác và đồng sản xuất các bài hát chọn lọc cho album dưới cái tên William Bowery.[210] Quá trình làm ra Folklore đã được giới thiệu trong bộ phim tài liệu hòa nhạc Folklore: The Long Pond Studio Sessions, do Swift làm đạo diễn và phát hành vào ngày 25 tháng 11.[211]

Được Swift và Dessner mô tả là "những bản thu âm chị em", cả hai album đều mang thể loại indie folkalternative rock, khác biệt với những bản nhạc pop lạc quan trước đó.[212][213] Tại Hoa Kỳ, FolkloreEvermore bao gồm các đĩa đơn theo thứ tự là "Cardigan", "Betty", "Exile" (hợp tác với Bon Iver); và "Willow", "No Body, No Crime" (hợp tác với Haim), "Coney Island" (hợp tác với The National).[214] Tại Đức, Folklore được bổ sung thêm một đĩa đơn khác, "The 1".[215] Các đĩa đơn chính trong mỗi album, "Cardigan" và "Willow", đã vươn lên đứng đầu Billboard Hot 100 cùng thời điểm mà album mẹ của nó ra mắt ở vị trí quán quân Billboard 200, đưa Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên đứng đầu cả hai bảng xếp hạng đĩa đơn và album của Hoa Kỳ cùng một lúc.[216] Cả hai album đều bán được hơn một triệu bản trên toàn thế giới ngay trong tuần đầu tiên, riêng Folklore bán được hai triệu bản.[217][218] Folklore đã phá kỷ lục Guinness thế giới về album có lượng phát trực tuyến trong ngày đầu tiên cao nhất của một nghệ sĩ nữ trên Spotify,[219] và là album bán chạy nhất năm 2020 tại Hoa Kỳ, bán được 1,2 triệu bản.[220] Swift là nhạc sĩ được trả lương cao nhất năm 2020 ở Hoa Kỳ và là nhạc sĩ solo được trả lương cao nhất trên toàn thế giới.[221]

Sau những tranh cãi liên quan đến quyền sở hữu các ca khúc, Swift đã phát hành bản tái thu âm đầu tiên của cô, Fearless (Taylor's Version), vào ngày 9 tháng 4 năm 2021. Bản thu âm lại album năm 2008 Fearless của cô đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200[222] bao gồm ba đĩa đơn: "Love Story (Taylor's Version)", "You All Over Me" hợp tác với Maren Morris và "Mr. Perfectly Fine".[223] "Love Story (Taylor's Version)", bản thu âm lại đĩa đơn "Love Story" năm 2008 của Swift, đưa Swift trở thành nghệ sĩ thứ hai sau Dolly Parton có cả bản gốc và bản thu âm lại của một đĩa đơn đứng ở vị trí số một trên Hot Country Songs.[224] Bản tái thu âm thứ hai của Swift, Red (Taylor's Version)—bản thu âm lại album Red năm 2012 của cô, dự kiến phát hành vào ngày 19 tháng 11 năm 2021.[225] Ngoài những sản phẩm solo, Swift còn góp giọng trong đĩa đơn "Gasoline", trích từ phiên bản mở rộng của album năm 2020 Women in Music Pt. III của Haim,[226] và hai bài hát, "Renegade" và "Birch", trích từ album năm 2021 của ban nhạc indie folk Big Red Machine How Long Do You Think It's Gonna Last?.[227] Swift sẽ xuất hiện trong dự án phim chưa có tiêu đề của David O. Russell.[228]

Tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mỹ 2020, Swift đã giành được ba giải thưởng, trong đó có Nghệ sĩ của năm lần thứ ba liên tiếp.[229] Folklore giành giải Album của năm tại lễ trao giải Grammy lần thứ 63, đưa Swift trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử ba lần giành được giải thưởng này.[230] Vào tháng 5 năm 2021, Swift nhận giải Biểu tượng toàn cầu do giải Brit trao tặng, và đồng thời nhận giải Nhạc sĩ Biểu tượng do Hiệp hội Nhà xuất bản Âm nhạc Quốc gia trao tặng.[231]

Phong cách nghệ thuật

Phong cách âm nhạc và giọng hát

 
Taylor Swift biểu diễn tại Reputation Stadium Tour vào tháng 5 năm 2018.

Âm nhạc của Swift hòa trộn các yếu tố nhạc pop, pop rockđồng quê.[232] Cô tự nhận mình là một nghệ sĩ đồng quê cho đến khi phát hành 1989 (2014), được cô mô tả là một "album mang kết cấu giai điệu pop".[233] Rolling Stone cho rằng Swift "có thể được chơi trên trạm phát thanh đồng quê, nhưng cô ấy là một trong những ngôi sao nhạc rock thực thụ hiếm hoi hiện nay".[234] The New York Times nhận thấy "Âm nhạc của Taylor không mấy liên quan đến dòng nhạc đồng quê—một vài tiếng gảy banjo, một đôi ủng cao bồi trên sân khấu cùng tiếng đàn guitar du dương—nhưng có chút gì đó khác biệt trong sự rạng rỡ của cô ấy, đôi chút mỏng manh mang nét khác biệt so với Nashville."[235] The New Yorker tin rằng cô "sáng tác những bài hát tường thuật với giai điệu trong trẻo và cường điệu hóa".[236]

 
Cây guitar Les Paul và micrô của Swift tại Bảo tàng nhạc cụ ở Phoenix

Swift sở hữu chất giọng nữ trung.[237] Sophie Schillaci từ The Hollywood Reporter miêu tả giọng hát của Swift "ngọt ngào, nhưng mềm mại".[238] Trong phòng thu, Los Angeles Times chỉ ra giọng điệu mang tính "quyết định" của Taylor nằm ở "câu hát ảm đạm như một tiếng thở dài mãn nguyện hay vút cao một cách bất ngờ, giúp cô giữ sự nữ tính đáng yêu trong không gian thân mật".[239] Rolling Stone, trong bài đánh giá Speak Now, có ghi nhận: "Giọng hát của Taylor đủ chân thật để cho thấy sự lão luyện của cô trong vai trò ca sĩ; cô hạ thấp giọng ở những đoạn quan trọng, trong tâm trạng của một cô gái e ấp đang cố gắng nắm lấy uy quyền."[240] Trong một bài đánh giá khác, The Village Voice cho rằng cách phân nhịp trước đây của Swift "nhạt nhẽo và lộn xộn, nhưng mọi thứ đã thay đổi. [Giọng hát] của Taylor nghe có vẻ gượng gạo và mỏng manh, thường đi lạc vào một cao độ có thể khiến một vài người nghe nổi đóa; nhưng cô đã học được cách làm cho từ ngữ khi hát nghe một cách chuẩn xác".[241] Giọng hát trực tiếp của Swift được đánh giá là "ổn" nhưng không bằng nhiều đồng nghiệp của cô.[238] Một số nhà phê bình vào năm 2009 mô tả giọng của Swift "nhàm chán, mỏng manh và đôi khi yếu ớt như một con ngựa mới sinh".[242][243] Tuy vậy, Swift lại nhận nhiều lời khen ngợi vì không sử dụng Auto-Tune để khắc phục cao độ khi trình diễn.[244][245]

Trong một cuộc phỏng vấn với The New Yorker, Swift mô tả bản thân chủ yếu là một nhạc sĩ: "Tôi viết bài hát, giọng hát của tôi chỉ là cách để truyền đạt chúng".[25][246] Borchetta thừa nhận vào năm 2010 rằng Swift "không phải là nghệ sĩ có kĩ thuật tốt nhất" nhưng mô tả cô là "người đại diện tốt nhất mà chúng tôi có được".[247] Giọng hát của Swift đôi lúc khiến cô lo lắng và phải cố gắng cải thiện rất nhiều.[248] Một báo cáo vào năm 2010 cho biết Swift vẫn tiếp tục học thanh nhạc.[249][250] Cô nói rằng mình chỉ cảm thấy lo lắng khi trình diễn "nếu như tôi không chắc khán giả nghĩ gì về mình, như trong một đêm trao giải chẳng hạn".[251]

Ảnh hưởng

Shania Twain (trái) và Stevie Nicks (phải) ảnh hưởng đến Swift

Một trong những kỷ niệm âm nhạc sơ khai nhất của Swift là lắng nghe bà ngoại của cô Marjorie Finlay hát tại nhà thờ.[6]:1 Lúc nhỏ, Swift yêu thích các bài hát nhạc phim Disney: "Bố mẹ tôi để ý rằng, mỗi khi quên mất lời, tôi lại nghĩ ra nhiều câu của riêng mình."[252] Mẹ của Swift là người truyền đạt "niềm yêu thích đến việc sáng tác và kể chuyện"[253] và tạo dựng sự tự tin cho cô, thường giúp cô chuẩn bị trong những buổi thuyết trình ở lớp lúc còn nhỏ.[254] Cô nuôi dưỡng niềm yêu thích âm nhạc đồng quê[255] cùng "những nữ nghệ sĩ đồng quê vĩ đại của thập niên 90;... Shania Twain, Faith Hill, nhóm Dixie Chicks".[256][257] Twain là nguồn ảnh hưởng lớn nhất đến cô, cả ở cương vị ca sĩ lẫn nhạc sĩ.[258] Hill là hình mẫu trong tuổi thơ của cô: "Mọi thứ cô ấy phát biểu, thực hiện, ăn mặc, tôi đều cố bắt chước chúng."[259] Swift tôn trọng thái độ khiêu khích và khả năng tự chơi nhạc cụ của Dixie Chicks.[260] "Cowboy Take Me Away" của nhóm là bài hát đầu tiên Swift học chơi trên guitar.[261]

Swift còn tiếp cận đến nhiều ngôi sao đồng quê gạo cội, bao gồm Patsy Cline, Loretta Lynn,[16] Dolly PartonTammy Wynette.[16] Cô tin rằng Parton là "một ví dụ hoàn hảo cho tất cả nữ nhạc sĩ".[262] Những nghệ sĩ alt-country như Ryan Adams,[263] Patty Griffin,[264]Lori McKenna cũng gây ảnh hưởng tới Swift.[265] Trước độ tuổi thiếu niên, cô còn yêu thích các nghệ sĩ bubblegum pop như HansonBritney Spears, người mà cô "tôn kính một cách trung thành".[266][267] Ở trường trung học, Swift nghe những ban nhạc rock như Dashboard Confessional,[268] Fall Out Boy,[269]Jimmy Eat World.[270] Cô cũng là người hâm mộ của những ca sĩ tự sáng tác đương đại như Michelle Branch,[270] Alanis Morissette,[271] Ashlee Simpson,[272] Fefe Dobson[270]Justin Timberlake;[273] cùng những nghệ sĩ thập niên 1960 như The Shirelles, Doris TroyThe Beach Boys.[274]

Swift liệt kê Paul McCartney, Bruce Springsteen, Emmylou Harris, Kris Kristofferson và Carly Simon là hình mẫu cho sự nghiệp âm nhạc của mình: "Họ biết nắm bắt cơ hội nhưng vẫn luôn là chính mình trong suốt sự nghiệp."[25][275] McCartney, ở cương vị đơn ca lẫn trong ban nhạc The Beatles, khiến Swift cảm thấy "muốn hiểu được trái tim và trí óc của ông [...] Bất kể một nhạc sĩ nào cũng mơ ước có một di sản như thế."[276] Cô yêu mến Springsteen vì ông "vẫn theo đà xu hướng âm nhạc sau một khoảng thời gian dài".[277] Cô còn mong muốn giống như Harris khi chín chắn hơn[278] và cho rằng Kristofferson "tỏa sáng trong vai trò sáng tác".[279] Cô trân trọng khả năng "sáng tác và [sự] chân thật" của Simon, "Cô ấy nổi tiếng là một người nhạy cảm nhưng cũng rất mạnh mẽ".[280] Album phòng thu thứ năm của Swift, 1989 lấy cảm hứng từ nhiều nghệ sĩ pop thập niên 1980 mà cô yêu thích, như Annie Lennox, Phil Collins và "Madonna thời kỳ Like a Prayer".[281]

Sáng tác

Swift dùng những trải nghiệm đời thực làm cảm hứng cho tác phẩm của mình,[282] nơi cô thường đề cập đến "những mối tình đơn phương vô danh thời trung học" và người nổi tiếng.[283] Cô cũng nhiều lần nhắc đến những người tình cũ một cách gièm pha.[284] The Village Voice bình luận về sáng tác của cô, "tuy không phải lời thú tội, nhưng vô cùng kịch tính."[285] Dù vậy, New York tin rằng sự săm soi của giới truyền thông, muốn cô "tận dụng đời tư cho âm nhạc... là phân biệt giới tính, khi nhiều nam đồng nghiệp khác không bị bắt bẻ bởi những điều tương tự".[286] Chính Taylor cũng thừa nhận rằng không phải bài hát nào cũng là chuyện có thật mà đôi khi dựa trên quan sát trong cuộc sống để sáng tác.[287] Ngoài những manh mối trên bìa ghi chú, Swift cố gắng không nhắc đến chủ đề bài hát một cách trực tiếp, "vì đây là những người có thật. Bạn phải cố gắng truyền đạt suy nghĩ của mình một cách tế nhị mà không dẫm đạp người khác".[288]

"Khi một người phụ nữ viết về cảm nhận của bản thân, nhưng lại bị cho là một cô bạn gái rùng rợn, điên rồ, tuyệt vọng, cầu xin bạn để được kết hôn và có con với cô ta, tôi nghĩ điều đó bôi nhọ những gì cần phải được tôn trọng – một người phụ nữ kể về cảm xúc của mình theo một cách tự nhiên – rồi xuyên tạc, biến nó thành một điều gì đó, mà đôi khi rất phân biệt giới tính."

— Swift đáp trả trước sự chỉ trích về tác phẩm của mình[289]

The Guardian khen ngợi những sáng tác tuổi thiếu niên "với một kiểu tiếc nuối, một nỗi nhớ mang màu sắc sepia" trong hai album đầu tiên của Swift.[236] New York nhận thấy nhiều ca–nhạc sĩ đã thực hiện những bản thu tuyệt vời lúc còn thiếu niên, nhưng "chưa một ai tạo những bản thu tuyệt vời một cách công khai về lứa tuổi thiếu niên của họ." Tạp chí còn so sánh tác phẩm của cô với Janis Ian.[290] Trong Fearless, Swift sử dụng hình ảnh cổ tích và khám phá sự trái ngược "giữa những câu chuyện cổ tích và thực tế của tình yêu".[291] Các album sau này của cô chứa đựng nhiều mối quan hệ trưởng thành hơn.[275] Ngoài tình yêu và sự lãng mạn, các bài hát của Swift cũng bàn luận về mối quan hệ giữa bố mẹ-con cái, tình bạn,[292][293] mối bất hòa, danh vọng và tham vọng sự nghiệp.[253] Swift thường đưa vào "một cụm từ bất cần kể về những điều to tát và lớn lao không liên quan đến bài hát, nhằm nhấn mạnh hoặc phá vỡ lối tường thuật chính".[294]

Rolling Stone mô tả cô là "một nhạc sĩ uyên bác cùng tài năng nhạy bén với cấu trúc lời chính-điệp khúc-chuyển tiếp cuối bài".[295] Theo The Village Voice, cô thường xuyên đảo chiều quan điểm ở đoạn thứ ba của mỗi bài hát.[294] Xét về mặt hình ảnh, sự lặp lại thể hiện rõ trong sáng tác của Swift. The Guardian mỉa mai rằng "cô dành quá nhiều thời gian để hôn dưới mưa, tới nỗi mọi người không hiểu tại sao cô vẫn chưa bị cóng chân".[236] Slant Magazine nói thêm, "để ghi nhận Taylor, cô đã khai phá một mô-típ trữ tình mới trong [album thứ tư của mình]".[296] Trong lúc đánh giá các sáng tác của Swift "gần như đồng nhất một cách tích cực", The New Yorker cho biết cô thường được mô tả như là "một nhạc sĩ có tay nghề nhiều hơn là một người có tầm nhìn kiểu Dylanesque".[25]

Hình tượng công chúng

Đời sống tình cảm của Swift là chủ đề thu hút giới truyền thông.[297] Ben Phelps của World Book Club gọi cô là "bộ mặt lẳng lơ của ngày tận thế Mỹ" trong khi Abercrombie & Fitch quảng cáo áo phông với slogan chỉ trích đời tư ám chỉ Taylor.[298] Tờ The New York Times khẳng định "tình sử của cô bắt đầu khuấy động những gì khiến ta cảm thấy như khởi đầu của một phản ứng dữ dội" và băn khoăn liệu Taylor có đang trong "cuộc khủng hoảng nhị tuần."[299] Dù vậy, Swift tuyên bố mình chưa sẵn sàng để bàn cãi về đời tư trước công chúng,[297] điều mà cô tin rằng có thể biến thành "một điểm yếu trong sự nghiệp" của mình.[300]

 
Taylor tại Time 100 Gala vào năm 2010, nơi cô được vinh danh

Rolling Stone bình luận về cách cư xử tế nhị của cô: "Nếu đây là trò chơi chủ lực của Taylor, cô đã thành công vì điều đó không bao giờ phai nhạt."[301] Vào năm 2012, tờ báo này gọi Swift "thân thiện một cách dễ chịu"[35] trong khi The Hollywood Reporter mô tả cô là "người tuyệt nhất kể từ Bill Clinton".[302] Vào năm 2012, Swift được cựu đệ nhất phu nhân Michelle Obama ghi nhận công việc thiện nguyện của mình, khen ngợi cô là người "vươn đến ngôi đầu của ngành công nghiệp âm nhạc nhưng vẫn mang nhận thức rõ ràng, người đã phá vỡ mọi kỳ vọng mà một người ở tuổi 22 có thể đạt được".[303] Swift sau đó gọi bà là "một hình tượng lý tưởng".[304] Swift là một trong những người được theo dõi nhiều nhất trên mạng xã hội và nổi tiếng bởi những tương tác một cách thân thiện với người hâm mộ.[305][306] Cô cho rằng mình "có trách nhiệm" ý thức về ảnh hưởng của mình đến cộng đồng người hâm mộ trẻ tuổi[307] và gọi họ là "mối quan hệ đẹp và lâu dài nhất của tôi".[308]

Bloomberg L.P. gọi Swift là một biểu tượng gợi cảm[309] nhưng không giống như những người đương thời, cô xuất hiện một cách khiêm tốn hơn.[18][310] Vogue vinh danh cô là "Biểu tượng của phong cách Mỹ" năm 2011.[311] Vào năm 2014, cô dẫn đầu danh sách ăn mặc đẹp thường niên của tạp chí People.[312] Năm 2015, Swift giành giải Elle Style Awards cho "Người phụ nữ của năm"[313]Maxim xếp cô ở vị trí quán quân trong danh sách Hot 100 của năm.[314]

Swift xuất hiện trong danh sách 100 người gây ảnh hưởng nhất thế giới của tạp chí Time vào năm 2010 và 2015.[315][316] Từ 2011–15, cô nằm trong top 3 những người phụ nữ bội thu trong âm nhạc của tạp chí Forbes, với thu nhập lần lượt là 45 triệu, 57 triệu, 55 triệu, 64 triệu và 80 triệu đô-la Mỹ.[317] Năm 2015, cô là nhân vật trẻ nhất góp mặt trong danh sách 100 người phụ nữ quyền lực nhất của Forbes, ở vị trí thứ 64.[318] Trong năm 2016, cô dẫn đầu danh sách 100 người nổi tiếng được trả thù lao cao nhất của Forbes, với 170 triệu đô-la Mỹ cô lọt vào top 10 trong các năm 2011, 2013 và 2015.[319] Tháng 6 năm 2017, Forbes ước tính tổng tài sản của Swift đạt 280 triệu đô-la Mỹ.[320] Vào năm 2019, Swift một lần nữa dẫn đầu danh sách 100 người nổi tiếng được trả thù lao cao nhất của Forbes với 185 triệu đô-la Mỹ, qua đó tự phá kỷ lục của chính mình về số tiền thu được nhiều nhất trong một năm và cũng qua đây cô trở thành người nổi tiếng duy nhất dẫn đầu danh sách trên trong một thập kỷ với 2 lần (2016 và 2019). Đến tháng 6 năm 2019, Forbes ước tính tổng tài sản của Swift trong âm nhạc đạt 360 triệu đô-la Mỹ.

Ảnh hưởng và di sản

 
Swift trình diễn "Shake It Off" tại chuyến lưu diễn The 1989 World Tour

Swift được coi là nghệ sĩ quan trọng nhất của thế hệ Millennials.[321][322] Thành công sớm của cô ở dòng nhạc đồng quê đã đóng một vai trò lớn trong việc định hình lại nền âm nhạc đồng quê và đã tạo một làn sóng nhạc đồng quê lớn trên toàn thế giới, với Billboard viết, "Phong cảnh dòng nhạc đồng quê đã khác biệt hơn rất nhiều, nhờ công của Swift và sự kiên định của cô ấy trong việc theo đuổi một kế hoạch mà nhiều người cho là không chính thống".[323] Nhà báo Jody Rosen của thời báo New York khẳng định rằng Swift là nghệ sĩ nhạc đồng quê đầu tiên có sự thành công vượt ra ngoài nước Mỹ.[324] Theo BBC, Swift đã mở đường cho các nghệ sĩ chuyển đổi dòng nhạc "những người không muốn bị dồn ép vào các thể loại âm nhạc tách biệt" và được coi là nhà tiên phong trong việc thử nghiệm nhiều thể loại âm nhạc khác nhau và phá bỏ mọi rào cản, qua sự ra mắt của album nhạc pop đầu tiên của cô, 1989.[325] Rolling Stone lên tiếng rằng Swift đã mở thêm một không gian cho những nghệ sĩ nữ "dường như bất lực" trong âm nhạc của họ.[326] Billboard cũng báo cáo rằng do sự nổi tiếng của Swift, các hãng đĩa đã có thêm hứng thú trong việc kí nhận các nghệ sĩ nhạc đồng quê có khả năng tự sáng tác nhạc.[327] Công ty sản xuất đàn guitar Fender đã gọi "nhân tố Taylor Swift" giúp cho doanh số của công ty tăng 50% vì những cô gái trẻ có thêm mong muốn học đàn guitar.[328] Swift là một trong những nghệ sĩ đã làm vực dậy lại nhạc cụ ukulele ở nền âm nhạc hiện đại.[329]

Theo Rolling Stone, vụ việc Swift phản đối những dịch vụ nghe nhạc trực tuyến miễn phí và sự nỗ lực giành quyền sở hữu âm nhạc của cô là hai trong những khoảnh khắc đáng nhớ nhất của ngành âm nhạc ở thập kỉ 2010s.[330] Hành động của cô cũng đã gây nên nhiều tranh cãi về quy tắc hoạt động của các dịch vụ nghe nhạc trực tuyến và nâng cao nhận thức về quyền sở hữu trí tuệ âm nhạc ở các nghệ sĩ trẻ.[331][332][333] Cô đã giúp thúc đẩy doanh số bán album truyền thống trong thời đại streaming; Quartz nhận định Swift là nghệ sĩ duy nhất vẫn có thể bán chạy đĩa CD trong năm 2019.[334] Swift cũng được gọi là "biểu tượng nữ quyền" vì sự nỗ lực không ngừng nghỉ đấu tranh cho quyền bình đẳng giới và tố cáo nạn kỳ thị nữ giớiphân biệt giới tính.[335][336][337]

Năm 2019, Swift được Billboard vinh danh là "Phụ nữ thập kỉ"[338] Cô cũng được vinh danh là "Nghệ sĩ thập kỉ" ở lễ trao giải thưởng âm nhạc Mỹ 2019.[339] và nhiều trang báo khác cũng trao tặng cho cô danh hiệu tương tự.[340][341][342] Cô được xướng tên trong danh sách 10 nghệ sĩ thay đổi âm nhạc ở thập kỉ 2010s bởi CNN vì đã "phá bỏ ranh giới giữa dòng nhạc đồng quê và pop, và chiến đấu giành quyền sở hữu âm nhạc của mình."[343] Swift đã được công nhận là một biểu tượng thời trang.[344][345] Vogue gọi cô là một trong những người có ảnh hưởng về thời trang bền vững lớn nhất thế giới.[346] Swift đã làm vực dậy phong trào ảnh Polaroids[347] và máy ảnh Instax[348] sau khi chụp bức ảnh polaroid làm ảnh bìa cho album 1989 và sự hợp tác của cô với hãng máy ảnh Fujifilm vào năm 2018. Swift cũng đã khiến lượt đăng kí bình chọn tăng nhanh chóng trên trang Vote.org qua bài đăng xác nhận quan điểm chính trị của cô trên Instagram vào năm 2018.[349] Tháng 10 năm 2020, theo lời một nghiên cứu, Swift là một trong những người nổi tiếng có sức ảnh hưởng cao nhất trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ 2020.[350] Hai album phòng thu của Swift, FolkloreEvermore được ghi nhận đã cách mạng hóa ngành âm nhạc giữa đại dịch COVID-19.[351][352][353][354][355][356][357]

Nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc Jack Antonoff đã ghi công Swift vì đã giúp anh bắt đầu sự nghiệp làm nhà sản xuất.[358] Swift đã truyền cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ khác nhau như Ruth B.,[359] Shamir Bailey,[360] Kelsea Ballerini,[361] Priscilla Block,[362] Bailey Bryan,[363] Camila Cabello,[364] Sabrina Carpenter,[365] Sofia Carson,[366] The Chainsmokers,[367] Daya,[368] Billie Eilish,[369] Frances Forever,[370] Selena Gomez,[371] Ellie Goulding,[372] Conan Gray,[373] Girl in Red,[374] Griff,[375] Halsey,[376] Niall Horan,[377] Little Mix,[378] Shawn Mendes,[379] Soccer Mommy,[380] Maren Morris,[381] Nina Nesbitt,[382] Niki,[383] Finneas O'Connell,[384] Maisie Peters,[385] Freya Ridings,[386] Olivia Rodrigo,[387] Troye Sivan,[388] Slayyyter,[389] Tegan and Sara,[390] Tessa Violet,[391] The Vamps,[392] Hayley Williams,[393]Zahara.[394]

Hoạt động khác

Từ thiện

Tổ chức Do Something và Dịch vụ Thiên tai Tennessee đã công nhận nhiều nỗ lực từ thiện của Swift.[395][396] Cô được trao tặng giải thưởng Big Help vì những "cống hiến giúp đỡ người khác" và "tạo cảm hứng cho mọi người thông qua hành động",[397] cùng giải Ripple of Hope vì "những cống hiến tích cực ở độ tuổi trẻ như vậy [..] Taylor là mẫu người mà chúng tôi muốn con gái của mình noi theo."[398] Năm 2008, cô ủng hộ 100.000 đô-la Mỹ cho Hội chữ Thập Đỏ để giúp đỡ các nạn nhân trong trận lụt ở bang Iowa.[399] Nữ ca sĩ trình diễn ở nhiều chương trình gây quỹ từ thiện như buổi hòa nhạc Sound Relife tổ chức tại Sydney vào năm 2009.[400] Cô cũng thu âm một bài hát cho album Hope for Haiti Now.[401] Taylor gửi 500.000 đô-la Mỹ cho một chương trình từ thiện do WSMV tổ chức để giúp đỡ các nạn nhân trong trận lụt ở bang Tennessee vào tháng 5 năm 2010.[402] Trong năm 2011, Swift dùng buổi diễn tập cùng trang phục trong chuyến lưu diễn Speak Now World Tour để gây quỹ hỗ trợ cho các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi vòi rồng ở nhiều bang đông nam Hoa Kỳ, quyên góp được hơn 750.000 đô-la Mỹ.[403] Năm 2012, cô hỗ trợ chương trình từ thiện Restore the Shore MTV do tổ chức Architecture for Humanity khởi xướng nhằm khắc phục những hậu quả do cơn bão Sandy để lại.[404] Năm 2016, cô ủng hộ 1 triệu đô-la Mỹ cho các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi trận lụt ở bang Louisiana.[405]

Vào năm 2010, Swift gửi 75.000 đô-la Mỹ cho Trường trung học Hendersonville của Nashville để giúp trường tân trang lại thính phòng.[406] Cô cam kết tài trợ 4 triệu đô-la Mỹ để xây dựng một trung tâm giáo dục mới tại Bảo tàng Country Music Hall of Fame and Museum ở Nashville vào năm 2012.[407] Cũng trong năm này, Swift hợp tác với công ty cho thuê sách giáo khoa Chegg nhằm ủng hộ 60.000 đô-la Mỹ cho các khoa âm nhạc thuộc sáu trường cao đẳng ở Hoa Kỳ.[408] Swift cũng khuyến khích việc nâng cao trình độ học vấn của trẻ em. Năm 2009, cô gửi tặng 250.000 đô-la Mỹ đến nhiều trường học khác nhau khắp Hoa Kỳ để cải thiện giáo dục.[409] Nữ ca sĩ còn ủng hộ 6.000 sách Scholastic đến Thư viện công cộng Reading ở bang Pennsylvania,[410] 14.000 sách cho Thư viện công cộng Nashville,[411] 2.000 sách cho chương trình học chữ tại Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe trẻ em của Bệnh viện Reading,[412] và 25.000 sách đến các trường học trong thành phố New York.[413]

Vào năm 2007, Swift khởi động một chiến dịch bảo vệ trẻ em khỏi những mối nguy hại trực tuyến cùng Hiệp hội Các trưởng Cảnh sát bang Tennessee.[414] Năm 2009, cô thu âm một thông báo cộng đồng của Sound Matters để giúp các thính giả nhận biết được tầm quan trọng của việc lắng nghe "có ý thức" nhằm ngăn chặn sự suy giảm thính giác.[415] Swift đã tặng nhiều vật dụng cho các cuộc bán đấu giá do nhiều tổ chức từ thiện khởi xướng như Quỹ Elton John AIDS, Dự án nước sạch cho trẻ em của UNICEF, MusiCares, và Feeding America.[416] Sau khi nhận giải Nghệ sĩ của năm của Viện Hàn lâm nhạc Đồng quê, Swift tặng 25.000 đô-la Mỹ đến Bệnh viện Nghiên cứu của Trẻ em St. Jude.[417] Trong năm 2012, nữ ca sĩ tham gia chương trình từ thiện Stand Up to Cancer và trình diễn "Ronan", một bài hát do chính cô sáng tác nhằm tưởng nhớ đến một cậu bé bốn tuổi đã mất vì căn bệnh u nguyên bào thần kinh. Swift phát hành bài hát này dưới dạng kĩ thuật số và toàn bộ số tiền thu về đã được gửi đến các tổ chức từ thiện chống ung thư.[418] Năm 2014, cô ủng hộ 100.000 đô-la Mỹ đến Quỹ Nghiên cứu Ung thư V,[419] và 50.000 đô-la Mỹ đến Bệnh viện Nhi Philadelphia.[420] Nữ ca sĩ cũng đến nhiều bệnh viện để thăm hỏi các bệnh nhân và hỗ trợ cho họ.[421] Swift còn khuyến khích những người trẻ tuổi tham gia vào các hoạt động cộng đồng tại địa phương nhằm hưởng ứng Ngày Thanh niên Phục vụ Toàn cầu.[422] Tháng 9 năm 2017, Swift đã âm thầm ủng hộ 1,5 triệu đô la mĩ cho quỹ Houston Food Bank, vinh danh mẹ cô- người từng tốt nghiệp trường đại học Houston nhằm quyên góp cho nạn nhân của siêu bão Harvey đã đổ bộ vào Mỹ.

Swift ủng hộ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Kesha chiến đấu luật pháp với Dr.Luke[423] và công ty Joyful Heart sáng lập bởi nữ diễn viên người Mỹ Mariska Hargitay.[424] Năm 2019, cô ủng hộ 113 ngàn đô la Mỹ cho tổ chức LGBT của Dự án bình đẳng Tennessee,[425] và cơ quan vận động truyền thông GLAAD nhằm ủng hộ cho Tháng tự hào.[426] Giữa đại dịch COVID-19, Swift ủng hộ cho Tổ chức Y tế thế giới.[427] Swift biểu diễn bài hát "Soon You'll Get Better" trong chương trình truyền hình đặc biệt One World: Together at Home điều hành bởi Lady Gaga hợp tác với công ty Global Citizen nhằm gây quỹ từ thiện cho quỹ chống đại dịch COVID-19 của Tổ chức Y tế thế giới.[428] Tháng 6 năm 2020, Swift ủng hộ cho Quỹ Giáo dục và Quốc phòng hợp pháp NAACP về Cái chết của George Floyd và cuộc vận động Black Lives Matter và kêu gọi người hâm mộ làm theo.[429] Ngoài những công việc từ thiện, Swift còn ủng hộ tiền cho một số fan hâm mộ của cô.[430]

Chính trị

Swift khẳng định mình là một người ủng hộ nữ quyền.[431] Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008, cô quảng bá cuộc vận động Every Woman Counts, nhằm thu hút phụ nữ làm việc trong quá trình chính trị. Cô là một trong những ngôi sao nhạc đồng quê bắt đầu thông báo công cộng cho cuộc vận hành Vote (For Your) Country (Bầu cử cho đất nước của bạn).[432] Trong bài phát biểu chấp nhận danh hiệu "Woman of the Decade" (Phụ nữ thập kỉ) của cô ở hội nghị Billboard Women in Music năm 2019, cô thể hiện quan điểm của mình chống lại nạn kỳ thị nữ giớiphân biệt giới tính.[433] Cô là một trong những người ký kết sáng lập cuộc vận động Time's Up chống lại nạn quấy rối tình dục.[434] Swift cũng đã nói lên quan điểm chống lại sự kỳ thị cộng đồng LGBT.[435] Qua vụ sát hại thanh niên đồng tính Larry King năm 2008, cô thông báo đến hiệp hội GLSEN phản ánh tội ác thù ghét.[436] Video âm nhạc của Swift chống bắt nạt "Mean" phản ánh việc kỳ thị đồng tính luyến ái.[437] Sau vụ xả súng tại hộp đêm ở Orlando năm 2016, Swift viết một bức thư nhằm tưởng nhớ các nạn nhân.[438] Cô khuyến khích ủng hộ đạo luật bình đẳng trong một bức thư gửi tới thượng nghị sĩ Lamar Alexander và một lời thỉnh cầu trên trang Change.org, thu về được 800,000 lượt ký và lời phản hồi từ Nhà Trắng và nhiều nhà lập pháp của Đảng dân chủ.[439][440] Swift gọi quản lý chủ quyền của tổng thống Donald Trump để thông hành đạo luật bình đẳng ở Giải thưởng Video Âm nhạc MTV 2019.[441] và giữa sự kiện Pride Live của ngày Stonewall năm 2020, cô chỉ trích thống kế dân số Hoa Kỳ năm 2020 vì đã loại bỏ người chuyển giới và những người phi nhị nguyên giới.[442]

Swift tránh lên tiếng về chuyện chính trị lúc mới bắt đầu sự nghiệp,[443] nhưng cô trở nên bắt đầu hoạt động chính trị hơn từ cuộc bầu cử lãnh đạo Hoa Kỳ năm 2018.[444] Cô đã ủng hộ cuộc vận động March For Our Lives và cải cách kiểm soát việc sử dụng súng ở Hoa Kỳ.[445] Cô đã tán thành cho các ứng cử viên cho chức vụ công lần đầu tiên trước cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2018, tuyên bố ủng hộ hai ứng cử viên Đảng dân chủ đại diện cho Tennessee tại Hạ viện và Thượng viện.[446] Trong chứng thực của cô, Swift trải lòng mong muốn của cô về quyền lợi LGBT nhiều hơn và bình đẳng giới tính và sắc tộc, lên án phân biệt chủng tộc, và khuyến khích người hâm mộ đi bầu cử cho giá trị của họ.[447] Cô lên tiếng ủng hộ Joe BidenKamala Harris trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2020.[448] và cô đã cho phép bài hát "Only The Young" được sử dụng làm nhạc quảng bá tranh cử cho đảng Dân chủ để tăng lượt bình chọn.[449]

Swift là một người truyền tiếng nói của mình về vấn đề người da trắng thượng đẳng, phân biệt chủng tộcsự tàn bạo của cảnh sát.[450][451] Tháng 5 năm 2020, Swift lên tiếng đòi công lý cho cái chết cho những người Mỹ gốc Phi như Ahmaud Arbery[452] và George Floyd.[453] Cô chia sẻ những nguồn ủng hộ cuộc vận động Black Lives Matter[454] và một bài văn viết bởi cựu tổng thống Barack Obama nhằm thay đổi chính sách khi cuộc biểu tình đòi công lý cho George Floyd nổi dậy, ủng hộ việc bỏ phiếu qua thư cho cuộc bầu cử Hoa Kỳ năm 2020 trong đại dịch COVID-19.[455] Cô đề nghị loại bỏ tượng đài những người Liên bang phân biệt chủng tộc ở Tennessee[456] và đề nghị ngày Juneteenth trở thành ngày nghỉ quốc gia.[457]

Quảng bá nhãn hiệu

Trong khi quảng bá album đầu tay, Swift là gương mặt của chiến dịch Mobile Music do hãng Verizon Wireless tổ chức.[458] Trong kỷ nguyên Fearless, cô quảng cáo loại đầm dây cho hãng L.e.i. tại Wal-Mart,[459] thiết kế thiệp American Greetings và búp bê Jakks Pacific.[460][461] Cô là đại sứ cho nhãn hàng Nashville Predators của NHL và máy chụp ảnh kỹ thuật số Sony Cyber-shot.[462][463] Cô trình bày trong quảng cáo trò chơi điện tử Band Hero, cùng Rivers Cuomo, Pete WentzTravis Barker trong ban nhạc hỗ trợ.[464][465] Trong kỷ nguyên Speak Now, cô phát hành một phiên bản đặc biệt của album này thông qua Target.[466] Swift trở thành đại sứ của nhãn hàng CoverGirl,[467] ra mắt hai nhãn hiệu nước hoa Elizabeth Arden, WonderstruckWonderstruck Enchanted.[468]

Trong khi quảng bá album phòng thu thứ 4 Red, Swift thực hiện quảng bá độc quyền thông qua Target,[469] Papa John's Pizza[470]Walgreens.[471] Cô là đại diện cho nhãn hàng Diet Coke và giày thể thao Keds,[472] ra mắt dòng nước hoa Elizabeth Arden thứ 3 mang tên Taylor by Taylor Swift,[473] và tiếp tục hợp tác cùng Sony Electronics và American Greetings.[474][475] Swift cũng hợp tác với AirAsia[476]Qantas[477] trong vai trò hãng hàng không chính thức trong chặng lưu diễn Red Tour tại Úc và châu Á, trong khi Cornetto quảng bá cô trong chặng lưu diễn tại châu Á.[478] Trong lúc quảng bá 1989, Swift xuất hiện trong nhiều quảng cáo của Subway, Keds, Target và Diet Coke.[479] Vào năm 2014, Swift phát hành nhãn hiệu nước hoa thứ 4 Incredible Things.[480] Năm 2016, cô làm việc với Apple Music để cho ra mắt ba đoạn quảng cáo.[481]

Swift ký hợp đồng dài hạn với tập đoàn AT&T vào năm 2016.[482] Cô cũng đã thực hiện một buổi hòa nhạc Super Saturday Night do DirecTV tổ chức trong đêm diễn Super Bowl năm 2017. Khi quảng bá album Reputation, Swift đã cho ra mắt những thước phim phía sau hậu trường về quá trình thu âm album qua DirecTV.[483] Năm 2018, Swift cho ra mắt hai đoạn quảng cáo cho AT&T.[484][485] Trong cùng năm, Swift hợp tác với công ty vận chuyển UPS nhằm quảng bá Reputation.[486]Fujifilm trong việc quảng cáo dòng máy ảnh Instax phiên bản đặc biệt, có kèm chức năng chụp ảnh tự sướng và đối mặt.[487][488] Năm 2019, Swift ký hợp đồng hợp tác dài hạn với công ty tài chính Capital One.[489] và cho ra dòng sản phẩm thời trang bền vững với Stella McCartney.[490]

Giải thưởng và thành tựu

 
Taylor trình diễn trong Speak Now World Tour tại Heinz Field, Pittsburgh năm 2011

Trong xuyên suốt sự nghiệp, Swift đã giành 11 giải Grammy,[491] 32 giải thưởng Âm nhạc Mỹ (nghệ sĩ giành nhiều giải nhất),[492] 23 giải thưởng Âm nhạc Billboard (nghệ sĩ nữ giành nhiều giải nhất),[493] 12 giải Hiệp hội nhạc đồng quê, 8 giải Viện hàn lâm nhạc Đồng quê[494] 2 giải Brit[150] và 1 giải Emmy.[495] Ở vai trò nhạc sĩ, cô từng 7 lần được vinh danh là "Nhạc sĩ/ca sĩ của năm" bởi Hiệp hội tác giả Nashville[49][496] và xuất hiện trong Đại sảnh Danh vọng Sáng tác.[497] Cô đồng thời là người trẻ tuổi nhất lọt vào danh sách 100 nhạc sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại của Rolling Stone năm 2015.[498] Năm 2019, Billboard xếp Swift ở vị trí thứ tám trên Bảng xếp hạng nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại.[499] Năm 2020, Billboard cũng xếp Swift ở vị trí thứ 29 trong danh sách 100 nghệ sĩ video âm nhạc xuất sắc nhất mọi thời đại.[500]

Swift đã bán được hơn 50 triệu bản album thuần túy, bao gồm 37,3 triệu tại Hoa Kỳ và 150 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới.[501][502][503] Năm album phòng thu đầu tiên của cô đều đã bán được hơn 4 triệu bản tại Hoa Kỳ.[504] Cô là nghệ sĩ đầu tiên có 4 album phòng thu bán được 1 triệu bản ngay trong tuần đầu tiên ở Hoa Kỳ và là nghệ sĩ có đĩa đơn kỹ thuật số bán chạy thứ ba ở Hoa Kỳ cho đến nay, với tổng số 120 triệu đơn vị đĩa đơn được RIAA chứng nhận.[505] Cô là nghệ sĩ có đĩa đơn bán chạy nhất tại Hoa Kỳ vào năm 2010 với gần 76 triệu bản.[506] và là nữ nhạc sĩ được trả lương cao nhất trong những năm 2010, đứng thứ hai trong danh sách Nhạc sĩ kiếm tiền nhiều nhất trong thập kỷ của Forbes với thu nhập 825 triệu USD.[507] Năm 2020, cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có cả album (Fearless) và bài hát ("Shake It Off") được RIAA chứng nhận Kim cương.[508] Swift là nữ nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu trong những năm thập niên 2010 và Reputation Stadium Tour (2018) của cô trở thành chuyến lưu diễn Hoa Kỳ có doanh thu cao nhất mọi thời đại.[509]

Danh sách đĩa nhạc

Lưu diễn

Sự nghiệp điện ảnh

Tựa đềNămVaiGhi chú
Jonas Brothers: The 3D Concert Experience2009Chính côKhách mời
Hannah Montana: The MovieChính côKhách mời
Ẩn số tình yêu2010Felicia Miller
Thần Lorax2012AudreyLồng tiếng
Người truyền ký ức2014Rosemary
Cats: Những chú mèo2019Bombalurina

Chú thích

  1. ^ Swift và thành viên Pat Monahan của ban nhạc Train ban đầu đã viết "Babe" cho album phòng thu thứ tư của Swift, Red.[187]

Tham khảo

  1. ^ “Taylor Swift Co-Wrote Calvin Harris' 'This Is What You Came For' Under Swedish Pseudonym”. Billboard. ngày 13 tháng 7 năm 2016.
  2. ^ Monroe, Jazz (ngày 25 tháng 5 năm 2020). “Taylor Swift and Jack Antonoff Team for Mysterious "Look What You Made Me Do" Cover on Killing Eve”. Pitchfork.
  3. ^ “America's Self Made Women — Taylor Swift”. Forbes. ngày 13 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.
  4. ^ Khan, Fawzia (18 tháng 6 năm 2021). “The Might Of Taylor Swift”. Elle. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2021.
  5. ^ “Taylor Swift Biography: Singer (1989–)”. FYI. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015.
  6. ^ a b Jepson, Louisa (2013). Taylor Swift. Simon and Schuster. tr. 1. ISBN 978-1-4711-3087-8. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2016.
  7. ^ Roth, Madeline (ngày 19 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift's Brother Had The Most Epic Graduation Weekend Ever”. MTV News. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  8. ^ Raab, Scott (ngày 20 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Interview”. Esquire. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  9. ^ “Photos Students at Alvernia Montessori School sending Taylor Swift a valentine”. Reading Eagle. ngày 13 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  10. ^ Hatza, George (ngày 8 tháng 12 năm 2008). “Taylor Swift: Growing into superstardom”. Reading Eagle. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012.
  11. ^ Mennen, Lauren (ngày 12 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Wyomissing childhood home on the market for $799,500”. Philadelphia Daily News. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2016.
  12. ^ “Taylor Swift Returns to Reading Pennsylvania as Maid of Honor in Friend's Wedding”. WCAU. ngày 22 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016.
  13. ^ “Taylor Swift, Age 12”. New York Daily News. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016.
  14. ^ Cooper, Brittany Joy (ngày 15 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift Opens Up About a Future in Acting and Admiration for Emma Stone”. Taste of Country. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012.
  15. ^ a b MacPherson, Alex (ngày 18 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift: 'I want to believe in pretty lies'. The Guardian. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  16. ^ a b c “Interview: The Unabridged Taylor Swift”. Rolling Stone. ngày 2 tháng 12 năm 2008.
  17. ^ a b c Morris, Edward (ngày 1 tháng 12 năm 2006). “When She Thinks 'Tim McGraw', Taylor Swift Savors Payoff: Hardworking Teen to Open for George Strait Next Year”. CMT. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010.
  18. ^ a b Diu, Nisha Lilia (ngày 3 tháng 4 năm 2011). “Taylor Swift: 'I won't do sexy shoots'. The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012.
  19. ^ “News: CMT Insider Interview: Taylor Swift (Part 1 of 2)”. CMT. ngày 26 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  20. ^ “Taylor Swift: The Garden In The Machine”. American Songwriter. ngày 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012.
  21. ^ Martino, Andy (ngày 10 tháng 1 năm 2015). “Exclusive: The real story of Taylor Swift's guitar 'legend'. Daily News. New York. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015.
  22. ^ “americanbar.org PDF” (PDF). Americanbar.org. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  23. ^ “On tour with Taylor Swift – Dateline NBC”. MSNBC. ngày 31 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  24. ^ Castro, Vicky (ngày 6 tháng 2 năm 2015). “How to Succeed as an Entrepreneur, Taylor Swift Style”. Inc. Monsueto Ventures. Bản gốc lưu trữ Tháng 9 24, 2016. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  25. ^ a b c d e Widdicombe, Lizzie (ngày 10 tháng 10 năm 2011). “You Belong With Me”. The New Yorker. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011.
  26. ^ Jo, Nancy (ngày 2 tháng 1 năm 2014). “Taylor Swift and the Growing of a Superstar: Her Men, Her Moods, Her Music”. Vanity Fair. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015.
  27. ^ “News: Taylor Swift's High School Names Auditorium in Her Honor”. CMT. ngày 23 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  28. ^ Grigoriadis, Vanessa (ngày 5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2012.
  29. ^ “Taylor Swift: The Garden In The Machine”. American Songwriter. ngày 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012.
  30. ^ “Songwriter Taylor Swift Signs Publishing Deal With Sony/ATV”. Broadcast Music, Inc. ngày 12 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  31. ^ Kosser, Michael (ngày 3 tháng 6 năm 2010). “Liz Rose: Co-Writer to the Stars”. American Songwriter. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012.
  32. ^ Leahey, Andrew (ngày 24 tháng 10 năm 2014). “Songwriter Spotlight: Liz Rose”. Rolling Stone. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2016.
  33. ^ DeLuca, Dan (ngày 11 tháng 11 năm 2008). “Focused on 'great songs' Taylor Swift isn't thinking about "the next level" or Joe Jon as gossip”. Philadelphia Daily News. tr. 1. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012.
  34. ^ Preston, John (ngày 26 tháng 4 năm 2009). “Taylor Swift: the 19-year-old country music star conquering America – and now Britain”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012.
  35. ^ a b Hiatt, Brian (ngày 25 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift in Wonderland”. Rolling Stone. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
  36. ^ Greenburg, Zack O'Malley (ngày 26 tháng 6 năm 2013). “Toby Keith, Cowboy Capitalist: Country's $500 Million Man”. Forbes. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
  37. ^ Taylor Swift (CD). Taylor Swift. Big Machine Records. 2006. BMR120702.Quản lý CS1: khác (liên kết)
  38. ^ a b c d e Solin, Jennifer (ngày 10 tháng 8 năm 2016). “Taylor Swift New Album Release Date Postponed; Is She Laying Low After Kim Kardashian, Kanye West Drama?”. International Business Times. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016.
  39. ^ Caramanica, Jon (ngày 5 tháng 9 năm 2008). “A Young Outsider's Life Turned Inside Out”. The New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
  40. ^ “Taylor Swift Total Album Sales”. Statistic Brain Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016.
  41. ^ Willman, Chris (ngày 5 tháng 2 năm 2008). “Taylor Swift's Road to Fame”. Entertainment Weekly. tr. 3. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012.
  42. ^ Cowling, Lauren (ngày 12 tháng 11 năm 2014). “5 of Taylor Swift's Most Country Performances”. Country Outfitter Life. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  43. ^ “Taylor Swift Joins Rascal Flatts Tour”. CMT. ngày 18 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010.
  44. ^ “Taylor Swift No. 1 on iTunes”. Great American Country. ngày 19 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2010.
  45. ^ “Teardrops on My Guitar”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010.
  46. ^ “Taylor Swift owns top of country chart”. Country Standard Time. ngày 23 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.
  47. ^ “Wal-Mart "Eyes" New Taylor Swift Project”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2008.
  48. ^ Rosa, Christopher (ngày 24 tháng 3 năm 2015). “Opening Acts Who Became Bigger Than The Headliner”. VH1. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015.
  49. ^ a b “Taylor Swift Youngest Winner of Songwriter/Artist Award”. Great American Country. 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015.
  50. ^ “Photos: All Taylor Swift Pictures: Horizon Award Winner Poses in the Pressroom”. Country Music Television. ngày 7 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ Tháng 11 23, 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày lưu trữ= (trợ giúp)
  51. ^ “Photos: 43rd Annual ACM Awards – Onstage: Winners: Acceptance Speech”. CMT. ngày 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012.
  52. ^ “Taylor Swift, Rascal Flatts, Carrie Underwood Score at 2008 AMA Awards” (Blog). Roughstock.com. ngày 24 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012.
  53. ^ “Amy Winehouse Wins Best New Artist, Kanye West Pays Tribute to Mom – Grammy Awards 2008, Grammy Awards”. People. ngày 2 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012.
  54. ^ Caplan, David (ngày 8 tháng 9 năm 2008). “Scoop”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012.
  55. ^ Rizzo, Monica (ngày 24 tháng 11 năm 2008). “Scoop – Couples, Camilla Belle, Joe Jonas”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012.
  56. ^ “Love Story – Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011.
  57. ^ a b “Discography Taylor Swift”. ARIA Charts. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010.
  58. ^ Ben-Yehuda, Ayala (ngày 13 tháng 8 năm 2009). “Black Eyed Peas, Jason Mraz Tie Records on Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010.
  59. ^ Grein, Paul (ngày 16 tháng 3 năm 2012). “Chart Watch Extra: Top Albums Of Last 10 Years” (Blog). Yahoo! Music. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011.
  60. ^ Herrera, Monica (ngày 8 tháng 10 năm 2009). “Taylor Swift's "Fearless" Tour Returns March 2010”. Rolling Stone. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  61. ^ Mapes, Jillian (ngày 23 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift Announces 'Speak Now' World Tour”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  62. ^ Weiss, Dan (ngày 12 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Journey To Fearless DVD”. American Songwriter. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  63. ^ Ryan, Sarah (ngày 10 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift Pranks Keith Urban” (Blog). Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015.
  64. ^ “Kanye calls Taylor Swift after 'View' appearance”. MSNBC. ngày 15 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009.
  65. ^ “Taylor Swift Thanks "Gracious" Beyonce for Inviting Her Onstage After Kanye Stunt at VMAs”. Rolling Stone. ngày 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  66. ^ Anderson, Kyle (ngày 16 tháng 9 năm 2009). “Kanye West's VMA Interruption Gives Birth To Internet Photo Meme”. MTV. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009.
  67. ^ a b Montgomery, James (ngày 2 tháng 2 năm 2010). “Why You Shouldn't Hate on Taylor Swift”. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  68. ^ Kreps, Daniel (ngày 1 tháng 2 năm 2010). “Beyonce, Taylor Swift Dominate 2010 Grammy Awards”. Rolling Stone. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012.
  69. ^ Kreps, Daniel (ngày 4 tháng 2 năm 2010). “Taylor Swift's Label Lashes Out at Critics of Grammy Performance”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  70. ^ Caramanica, Jon (ngày 1 tháng 2 năm 2010). “For Young Superstar Taylor Swift, Big Wins Mean Innocence Lost”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  71. ^ Kaufman, Gil (ngày 12 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift Dominates CMA Awards”. MTV News. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2016.
  72. ^ “Taylor Swift Wins Album of the Year at Academy of Country Music Awards”. Big Machine Records. ngày 6 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2009 – qua PR Newswire.
  73. ^ Ditzian, Eric (2009). “Taylor Swift, Michael Jackson Big Winners at American Music Awards”. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  74. ^ “2009 Artists of the Year”. Billboard. ngày 10 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012.
  75. ^ Vena, Jocelyn (ngày 6 tháng 11 năm 2009). “John Mayer Talks Taylor Swift Collaboration 'Half of My Heart'. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  76. ^ “Kellie Pickler Has Her 'Best Days' Thanks To Taylor Swift”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015.
  77. ^ “Boys Like Girls Dish on Taylor Swift”. Seventeen. ngày 15 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  78. ^ “Hannah Montana: The Movie (Original Motion Picture Soundtrack) by Hannah Montana”. iTunes Store. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  79. ^ Vena, Jocelyn (ngày 28 tháng 12 năm 2009). “New Taylor Swift Song Included In 'Valentine's Day' Featurette”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015.
  80. ^ a b c “Taylor Swift – Chart history on Canadian Hot 100”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  81. ^ Caramanica, Jon (ngày 6 tháng 3 năm 2009). “OMG! Taylor Swift Does 'CSI'!”. The New York Times (Blog). Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012.
  82. ^ Strecker, Erin (ngày 2 tháng 1 năm 2015). “Remember When Taylor Swift Shined as 'Saturday Night Live' Host?”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015.
  83. ^ Barrett, Annie (ngày 8 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift hosted the best 'Saturday Night Live' of the season so far ... really!?!”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012.
  84. ^ Park, Michael Y.; Sia, Nicole (ngày 29 tháng 12 năm 2009). “Taylor & Taylor Romance Was Overblown, Says Source”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012.
  85. ^ “Billboard Bits: Taylor Swifts Offers 'Apology' To Taylor Lautner, Christina Aguilera Confirms Split”. Billboard. ngày 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  86. ^ Sharkey, Betsy (ngày 12 tháng 2 năm 2010). “Review: 'Valentine's Day' – Page 2”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012.
  87. ^ McCarthy, Todd (ngày 7 tháng 2 năm 2010). “Valentine's Day – Film Reviews”. Variety. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012.
  88. ^ Hammel, Sara (ngày 4 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal Break Up: Source”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012.
  89. ^ Pietroluongo, Silvio (ngày 11 tháng 8 năm 2010). “Taylor Swift Makes Sparkling Hot 100 Entrance”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  90. ^ Caramanica, Jon (ngày 20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift, Angry on 'Speak Now'. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010.
  91. ^ Kaufman, Gil (ngày 3 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift's Speak Now Tops 1 Million In First Week”. MTV News. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016.
  92. ^ “Fastest-selling digital album in the US by a female artist”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
  93. ^ “Most simultaneous US hot 100 hits by a female”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
  94. ^ Wyland, Sarah (ngày 12 tháng 2 năm 2012). “Taylor Swift Takes Home Two GRAMMYs at Tribute-Filled Show” (Blog). Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012.
  95. ^ Suddath, Claire (ngày 12 tháng 2 năm 2012). “Taylor Swift, "Mean" | The Best and Worst of the 2012 Grammys”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012.
  96. ^ Deerwester, Jayme (ngày 12 tháng 2 năm 2012). “Adoration for Adele: 6 Grammys”. USA Today. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012.
  97. ^ Shelburne, Craig (ngày 18 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Named NSAI's Songwriter-Artist of the Year”. CMT. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015.
  98. ^ Smith, Hazel (ngày 24 tháng 10 năm 2011). “News: Hot Dish: Taylor Swift Sings Alan Jackson's Masterpiece at Nashville Songwriters Celebration”. CMT. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012.
  99. ^ Roland, Tom (ngày 2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. tr. 1. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  100. ^ “Taylor Swift wins ACM entertainer of the year”. Yahoo!. Associated Press. ngày 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  101. ^ “CMA Awards 2011: Taylor Swift wins entertainer of the year”. CBS News. ngày 9 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  102. ^ Kellogg, Jane (ngày 20 tháng 11 năm 2011). “AMAs 2011: Winners and Nominees Complete List”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015.
  103. ^ Allen, Bob (ngày 29 tháng 3 năm 2012). “Hot Tours: Taylor Swift, George Strait, Cirque Du Soleil”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012.
  104. ^ “Taylor Swift News and Blog”. taylorswift.com. ngày 21 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  105. ^ Herrera, Monica (ngày 15 tháng 3 năm 2012). “Taylor Swift, Arcade Fire Talk 'Hunger Games'. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012.
  106. ^ Labrecque, Jeff (ngày 12 tháng 12 năm 2012). “Golden Globe nominations: 'Lincoln' leads with 7 nods”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2012.
  107. ^ Horowitz, Steven J. (ngày 20 tháng 4 năm 2012). “B.o.B Explains Origins of Taylor Swift Collaboration "Both of Us". HipHopDX. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  108. ^ Toomedy, Alyssa. “Taylor Swift and Conor Kennedy Breakup: Anatomy of a Split”. E!. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015.
  109. ^ Trust, Gary (ngày 22 tháng 8 năm 2012). “Taylor Swift Scores First Hot 100 No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012.
  110. ^ “Discography Taylor Swift”. New Zealand Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016.
  111. ^ Lynch, Kevin (ngày 4 tháng 9 năm 2013). “Calvin Harris trumps Michael Jackson feat to join Taylor Swift, Rihanna and One Direction in Guinness World Records™ 2014 book”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
  112. ^ a b “Taylor Swift – Chart history”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016.
  113. ^ Apodaca, Joseph. “Billboard names Taylor Swift 2014's No. 1 music Money Maker — see who made the top 10”. KABC-TV. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016.
  114. ^ “Taylor Swift's 'Red' Sells 1.21 Million; Biggest Sales Week for an Album Since 2002”. Billboard. ngày 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012.
  115. ^ Greenwald, David (ngày 6 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift, Rihanna, Justin Bieber Among 2014 Guinness Record-Setters”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2016.
  116. ^ Allen, Bob (ngày 3 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift's Red Wraps as All-Time Country Tour”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  117. ^ “Grammys 2014: The complete list of nominees and winners”. Los Angeles Times. ngày 26 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015.
  118. ^ “VMAs: The 2013 Winner's List”. Entertainment Weekly. ngày 25 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013.
  119. ^ Gregoire, Carolyn (ngày 19 tháng 11 năm 2012). “Taylor Swift AMA Awards 2012: Pop Star Performs 'I Knew You Were Trouble' (Video)”. The Huffington Post. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
  120. ^ Payne, Chris (ngày 25 tháng 11 năm 2013). “Taylor Swift & Justin Timberlake Win Big at American Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015.
  121. ^ “NSAI Songwriter/Artists of the Year”. Nashville Songwriters Association International. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  122. ^ Caramanica, Jon (ngày 7 tháng 11 năm 2013). “Country Awards Hold Swift Close”. The New York Times. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014.
  123. ^ Labrecque, Jeff (ngày 12 tháng 12 năm 2013). '12 Years a Slave' and 'American Hustle' lead Golden Globe nominees”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013.
  124. ^ Bonaguro, Alison (ngày 25 tháng 1 năm 2013). “News: Offstage: Tim McGraw Wanted to Make Taylor Swift Duet an Event”. CMT. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  125. ^ Blistein, Doyle (ngày 4 tháng 6 năm 2013). “Taylor Swift Joins Rolling Stones for 'As Tears Go By'. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
  126. ^ “Taylor Swift Joins Florida Georgia Line Onstage for 'Cruise'. Taste of Country. ngày 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013.
  127. ^ Collin, Robbie (ngày 26 tháng 7 năm 2012). “The Lorax, review”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  128. ^ Beard, Lanford (ngày 1 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift says 'I do' to 'New Girl'. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2016.
  129. ^ Busis, Hillary (ngày 27 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift will co-star in long-awaited adaptation of 'The Giver'. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  130. ^ “Taylor Swift's Boyfriend Timeline: 10 Relationships & Their Songs”. Billboard. ngày 30 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016.
  131. ^ Peterson, Price (ngày 31 tháng 3 năm 2014). “Taylor Swift Moves into NYC Apartment Built Over Mysterious River of Pink Slime”. The Atlantic. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016.
  132. ^ 1989 (ghi chú CD). Taylor Swift. Big Machine Records. 2014. BMRBD0500A.Quản lý CS1: khác (liên kết)
  133. ^ Stutz, Colin (ngày 16 tháng 10 năm 2014). “Watch Taylor Swift's '1989' Secret Sessions Behind The Scenes Video”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  134. ^ Mansfield, Brian (ngày 18 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift debuts 'Shake It Off,' reveals '1989' album”. USA Today. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2014.
  135. ^ “1989 by Taylor Swift”. Metacritic. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016.
  136. ^ Caulfield, Keith (ngày 4 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's "1989" debuts with 1.287 million copies sold”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014.
  137. ^ Swatman, Rachel (ngày 31 tháng 8 năm 2015). “Taylor Swift enters Guinness World Records 2016 with yet another record-breaking achievement”. Guinness World Records. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016.
  138. ^ “Taylor Swift named IFPI Global Recording Artist of 2014”. International Federation of the Phonographic Industry. ngày 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015.
  139. ^ Trust, Gray (ngày 27 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift's 'Shake It Off' Debuts At No. 1 On Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014.
  140. ^ Trust, Gary (ngày 27 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift's 'Bad Blood' Blasts to No. 1 on Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015.
  141. ^ Trust, Gary (ngày 11 tháng 3 năm 2015). “Mark Ronson & Bruno Mars Notch 10th Week Atop Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015.
  142. ^ “The Weeknd at No. 1 on Hot 100, Shawn Mendes earns first Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2015.
  143. ^ Strecker, Erin (ngày 6 tháng 7 năm 2015). “Taylor Swift's 'Blank Space' the Fastest Video to Reach 1 Billion Views on Vevo”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  144. ^ “Grammy Nominations 2016: See the Full List of Nominees”. Billboard. Prometheus Global Media. ngày 7 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2015.
  145. ^ Stutz, Colin (ngày 21 tháng 7 năm 2015). “2015 MTV Video Music Awards Nominees Revealed: Taylor Swift, Kendrick Lamar, Ed Sheeran & More”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016.
  146. ^ “Live Music's $20 Billion Year: The Grateful Dead's Fare Thee Well Reunion, Taylor Swift, One Direction Top Boxscore's Year-End”. Billboard.
  147. ^ “Taylor Swift: 2014 Billboard Woman of the Year”. Billboard. ngày 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  148. ^ Payne, Chris (ngày 23 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Wins Dick Clark Award of Excellence at 2014, Presented by Diana Ross”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  149. ^ Leight, Elias (ngày 8 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift Talks Nominated 'Shake It Off' on the Grammys Red Carpet”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  150. ^ a b Jonze, Tim (ngày 25 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift wins international female solo artist at Brit awards 2015”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  151. ^ Betts, Stephen L. (ngày 25 tháng 3 năm 2015). “2015 ACM Award Milestone Winners Include Swift, Lambert”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  152. ^ Lynch, Joe (ngày 19 tháng 2 năm 2016). “Taylor Swift Joins Elite Club to Win Grammy Album of the Year More Than Once: See the Rest”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016.
  153. ^ Daly, Thomas J. (ngày 13 tháng 1 năm 2016). “Taylor Swift's Trademark Play”. The National Law Review. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2016.
  154. ^ Weissmann, Jordan (ngày 7 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift Has Written an Op-Ed in the Wall Street Journal”. Slate (Blog). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015.
  155. ^ Knopper, Steve (ngày 8 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Label Head Explains Spotify Removal”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  156. ^ Peters, Mitchell (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift Pens Open Letter Explaining Why '1989' Won't Be on Apple Music”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  157. ^ Halperin, Shirley (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “Apple Changes Course After Taylor Swift Open Letter: Will Pay Labels During Free Trial”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  158. ^ Rosen, Christopher (ngày 25 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift is putting 1989 on Apple Music”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015.
  159. ^ Brandle, Lars (ngày 9 tháng 6 năm 2017). “Taylor Swift's Entire Catalog Is Now on Spotify & Other Streaming Services: Go Listen”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2017.
  160. ^ Caulfield, Keith (ngày 19 tháng 6 năm 2017). “Taylor Swift Sees 4 Albums Back on Billboard 200 After Streaming Return”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017.
  161. ^ Gensler, Andy; Christman, Ed (ngày 21 tháng 6 năm 2017). “Taylor Swift's Songs Generated $400K After Returning to Streaming Services Last Week”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017.
  162. ^ Bacle, Ariana (ngày 16 tháng 2 năm 2015). “Paul McCartney jams with Taylor Swift at 'SNL' afterparty”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  163. ^ Watts, Cindy (ngày 27 tháng 3 năm 2015). “Kenny Chesney tops 12 a.m. with Taylor Swift, Joe Walsh”. The Tennessean. Bản gốc lưu trữ Tháng 9 24, 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày lưu trữ= (trợ giúp)
  164. ^ Lara, Maria Mercedes. “Calvin Harris Spends the Night at Taylor Swift's LA Home”. People. Bản gốc lưu trữ Tháng 6 29, 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  165. ^ Rhodan, Maya (ngày 25 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift and Calvin Harris Are the Highest-Paid Celebrity Couple”. Time. Bản gốc lưu trữ Tháng 6 29, 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  166. ^ Schillaci, Sophie (ngày 18 tháng 8 năm 2015). “Taylor Swift Tearfully Addresses Mom's Cancer Battle as She Performs 'Ronan'. Entertainment Tonight. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016.
  167. ^ Chiu, Melody (ngày 1 tháng 6 năm 2016). “Taylor Swift and Calvin Harris Split After 15 Months Together”. People. Bản gốc lưu trữ Tháng 6 29, 2016. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  168. ^ Spanos, Brittany (ngày 13 tháng 7 năm 2016). “Taylor Swift Co-Wrote Calvin Harris' Smash Hit 'This Is What You Came For'. Rolling Stone. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016.
  169. ^ Bailey, Alyssa (ngày 1 tháng 11 năm 2016). “Which Ex Is This New Taylor Swift Song "Better Man" About?”. Elle. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  170. ^ Hunt, Elle (ngày 9 tháng 12 năm 2016). “Taylor Swift and Zayn Malik release surprise duet for Fifty Shades Darker soundtrack”. The Guardian. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016.
  171. ^ Gonzalez, Sandra; McLean, Scott; Weisfeldt, Sara; Gauk-Roger, Topher (ngày 15 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift wins court case”. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2017.
  172. ^ “Speculation rife over Swift's social media disappearance”. News.com.au. ngày 19 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
  173. ^ Aswad, Jem (ngày 24 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift's New Single, 'Look What You Made Me Do,' Arrives (Listen)”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2017.
  174. ^ Peak positions:
    “Taylor Swift Scores Fifth No. 1 Single”. Australian Recording Industry Association. ngày 2 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017.
    “IRMA – Irish Charts”. Irish Recorded Music Association. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017.
    “NZ Top 40 Singles Chart”. Recorded Music NZ. ngày 4 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2017.
    White, Jack (ngày 1 tháng 9 năm 2017). “Taylor Swift scores first Number 1 on the Official Singles Chart with 'LWYMMD'. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2017.
  175. ^ a b Trust, Gary (ngày 11 tháng 9 năm 2017). “Taylor Swift at Nos. 1 & 4 on Billboard Hot 100, as Cardi B Moves Up to No. 2”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2017.
  176. ^ Lewis, Randy (ngày 29 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift's 'Look What You Made Me Do' video bashes another YouTube record”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2017.
  177. ^ “Top 40 Rhythmic Future Releases”. All Access Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2017.
  178. ^ “Taylor Swift holds No. 1 for second week”. Australian Recording Industry Association. ngày 9 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017.
  179. ^ Brandle, Lars (ngày 20 tháng 10 năm 2017). “Taylor Swift's 'Gorgeous' New Single Has Arrived: Listen”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
    Iasimone, Ashley; Brandle, Lars (ngày 3 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Debuts 'Call It What You Want': Watch Lyric Video”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
    “BBC – Radio 1 – Playlist”. BBC Radio 1. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2018.
  180. ^ Levine, Robert (ngày 22 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Schools the Music Industry Once Again, While Streaming Services Wring Their Hands”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017.
  181. ^ Brandle, Lars (ngày 20 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift's 'Reputation' Rules Australia's Albums Chart”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017.
  182. ^ “Taylor Swift Chart History”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017.
  183. ^ Aswad, Jem (ngày 12 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Strips Things Down for 'Saturday Night Live' Performances (Watch)”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2017.
  184. ^ “Taylor Swift Chart History”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2018.
  185. ^ Trust, Gary. “Taylor Swift's 'New Year's Day' Goes to Country Radio: Is Country Ready for It?”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018.
    Braca, Nina. “Taylor Swift to Release 'Delicate' Music Video at iHeart Radio Music Awards”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018.
  186. ^ Stubblebine, Allison (ngày 13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Announces First Round of Reputation Stadium Tour Dates”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2017.
  187. ^ Hudak, Joseph. “Sugarland Announce New Album 'Bigger,' Taylor Swift Collaboration”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018.
  188. ^ McKenna, Lyndsey (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Stream Taylor Swift's New Album, 'Lover'. NPR.
  189. ^ Caulfield, Keith (ngày 1 tháng 9 năm 2019). “Official: Taylor Swift's 'Lover' Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart With 867,000 Units Earned in First Week in U.S.”. Billboard.
  190. ^ Trust, Gary (ngày 3 tháng 9 năm 2019). “All 18 Songs From Taylor Swift's New Album 'Lover' Chart On the Billboard Hot 100”. Billboard.
  191. ^ “Arashi Best-Of Tops Taylor Swift for IFPI's Best-Selling Album of 2019”. Billboard. ngày 19 tháng 3 năm 2020.
  192. ^ Trust, Gary (ngày 6 tháng 5 năm 2019). “Lil Nas X's 'Old Town Road' Tops Billboard Hot 100 For Fifth Week, Taylor Swift's 'Me!' Vaults to No. 2”. Billboard.
  193. ^ Grein, Paul (ngày 26 tháng 8 năm 2019). “12 Records That Were Set at the 2019 VMAs”. Billboard.
  194. ^ Cirisano, Tatiana (ngày 2 tháng 3 năm 2020). “Taylor Swift Crowned IFPI's Global Best-Selling Artist”. Billboard.
  195. ^ “2019 Winners”. American Music Awards.
  196. ^ “Look What the Cats Trailer Dragged In”. GQ. ngày 18 tháng 7 năm 2019.
  197. ^ Mamo, Heran (ngày 15 tháng 1 năm 2020). “Taylor Swift 'Miss Americana' Netflix Doc Has a Release Date & We're So Ready for It”. Billboard.
  198. ^ “Miss Americana (2020)”. Rotten Tomatoes. Fandango Media.
  199. ^ Willman, Chris (ngày 21 tháng 1 năm 2020). “Taylor Swift: No Longer 'Polite at All Costs'. Variety. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2020.
  200. ^ Willman, Chris (ngày 6 tháng 2 năm 2020). “Taylor Swift Moves to Universal Music Publishing Group with New Pact”. Variety.
  201. ^ a b Grady, Constance (ngày 1 tháng 9 năm 2019). “The Taylor Swift/Scooter Braun controversy, explained”. Vox. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2019.
  202. ^ “The Taylor Swift, Scooter Braun, Justin Bieber row explained”. ngày 1 tháng 7 năm 2019 – qua www.bbc.co.uk.
  203. ^ Henderson, Cydney (ngày 23 tháng 4 năm 2020). “Taylor Swift Slams Big Machine's New Unauthorized Live Album as 'Shameless Greed'. USA Today. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2020.
  204. ^ Halperin, Shirley (ngày 16 tháng 11 năm 2020). “Scooter Braun Sells Taylor Swift's Big Machine Masters for Big Pay Day”. Variety. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2020.
  205. ^ Willman, Chris (ngày 16 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift Confirms Sale of Her Masters, Says She Is Already Re-Recording Her Catalog”. Variety. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  206. ^ Opperman, Jeff (12 tháng 3 năm 2021). “Taylor Swift Is Singing Us Back to Nature”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
  207. ^ Harrison, Ellie (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift to release surprise new album Folklore”. The Independent. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  208. ^ “Taylor Swift to release surprise ninth album 'Evermore' tonight”. NME. 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  209. ^ Lipshutz, Jason (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore': There's Nothing Quiet About This Songwriting Tour De Force”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  210. ^ Atkinson, Katie (15 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift Isn't So Sure She & Joe Alwyn Would Have Made Music Together If It Weren't for Lockdown”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2021.
  211. ^ Blistein, Jon (24 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift to Release New 'Folklore' Film, 'The Long Pond Studio Sessions'. Rolling Stone. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2020.
  212. ^ Carras, Christi (24 tháng 7 năm 2020). “Reviews of Taylor Swift's 'Folklore' album are in. Here's what critics are saying”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.
  213. ^ Schaffer, Claire (18 tháng 12 năm 2020). “Aaron Dessner on How His Collaborative Chemistry With Taylor Swift Led to 'Evermore'. Rolling Stone. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2021.
  214. ^ Trust, Gary (28 tháng 1 năm 2021). “Taylor Swift's 'Coney Island' and 'No Body, No Crime' Debut on Airplay Charts, Joining 'Willow'. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2021.
  215. ^ 'the 1' – Taylor Swift veröffentlicht neue Single aus Rekord-Album 'folklore' (bằng tiếng Đức). Universal Music Group. 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.
  216. ^ “Taylor Swift's 'Willow' Debuts at No. 1 on Billboard Hot 100”. Billboard. 21 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2021.
  217. ^ Countryman, Eli (31 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Sells Over 2 Million Copies in First Week”. Variety. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2020.
  218. ^ Willman, Chris (21 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift's 'Evermore' Sells a Million Worldwide in First Week”. Variety. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  219. ^ “Taylor Swift breaks 24 hour streaming record on Spotify for 8th album folklore”. Kỷ lục Guinness thế giới. 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.
  220. ^ Caulfield, Keith (7 tháng 1 năm 2021). “Lil Baby's 'My Turn' Is MRC Data's Top Album of 2020, Roddy Ricch's 'The Box' Most-Streamed Song”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  221. ^ Christman, Ed (19 tháng 7 năm 2021). “Billboard's U.S. Money Makers: The Top Paid Musicians of 2020”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
  222. ^ Caulfield, Keith (18 tháng 4 năm 2021). “Taylor Swift's Re-Recorded 'Fearless' Album Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart With Year's Biggest Week”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2021.
  223. ^ Shaffer, Claire (7 tháng 4 năm 2021). “Taylor Swift Releases New 'Fearless' Vault Song 'Mr. Perfectly Fine'. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2021.
  224. ^ Asker, Jim; Trust, Gary (22 tháng 2 năm 2021). “Taylor Swift's 'Love Story (Taylor's Version)' Debuts at No. 1 on Hot Country Songs Chart: 'I'm So Grateful to the Fans'. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2021.
  225. ^ Deville, Chris (18 tháng 6 năm 2021). “Taylor Swift's New Version Of Red Is Coming In November”. Stereogum. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2021.
  226. ^ Shaffer, Claire (18 tháng 2 năm 2021). “Haim Release 'Women in Music Pt. III' Expanded Edition With Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2021.
  227. ^ Daly, Rhian (29 tháng 6 năm 2021). “Big Red Machine announce new album, featuring two Taylor Swift cameos”. NME. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2021.
  228. ^ Galuppo, Mia (1 tháng 6 năm 2021). “Taylor Swift Set for David O. Russell Movie”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2021.
  229. ^ Willman, Chris (23 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift Wins Three American Music Awards, Says She's MIA Because of 'Recording All of My Old Music'. Variety. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020.
  230. ^ Willman, Chris (14 tháng 3 năm 2021). “Taylor Swift Becomes First Woman to Win Album of the Year Grammy Three Times”. Variety. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.
  231. ^ “NMPA to honor Taylor Swift with Songwriter Icon Award among other 2021 annual meeting honorees”. National Music Publishers' Association. 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
  232. ^ “Taylor Swift Biography”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012.
  233. ^ Cooper, Peter (ngày 26 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift reaches a turning point with '1989'. The Tennessean. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  234. ^ “Women Who Rock: The 50 Greatest Albums of All Time: Taylor Swift, 'Speak Now'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012.
  235. ^ “Pop and Rock Listings July 22 – 28”. The New York Times. ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012.
  236. ^ a b c Petridis, Alexis (ngày 6 tháng 3 năm 2009). “Taylor Swift: Fearless”. The Guardian. London. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
  237. ^ Fulford, Phyllis (2014). An Idiots Guide: Singing Second Edition. Penguin Publishing. tr. 192. ISBN 978-1-61564-622-7.
  238. ^ a b Schillaci, Sophie A. (ngày 25 tháng 8 năm 2011). “Taylor Swift at Staples Center: Concert Review”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  239. ^ Powers, Ann (ngày 25 tháng 10 năm 2010). “Album review: Taylor Swift's 'Speak Now'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
  240. ^ Sheffield, Rob (ngày 26 tháng 10 năm 2010). “Speak Now”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012.
  241. ^ Weber, Theon (ngày 3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift”. The Village Voice. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  242. ^ Serjeant, Jill (ngày 17 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift – "Fearless" or tone-less?”. Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012. Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |archivedate=|archive-date= (trợ giúp)
  243. ^ Tucker, Ken (ngày 12 tháng 11 năm 2009). “CMA Awards best and worst, starring Taylor Swift, the ghost of Kanye West, and Carrie Underwood's purple sequined hot-pants”. Entertainment Weekly.
  244. ^ Reed, James (ngày 24 tháng 10 năm 2010). “Swift's ascent continues with arrival of new album”. Boston Globe.
  245. ^ “Taylor Swift's dream year brings out naysayers”. Reuters. ngày 20 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.
  246. ^ DeLuca, Dan (ngày 11 tháng 11 năm 2008). “Focused on 'great songs' Taylor Swift isn't thinking about "the next level" or Joe Jonas gossip”. Philadelphia Daily News. tr. 3. Bản gốc lưu trữ Tháng 1 16, 2016. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày lưu trữ= (trợ giúp)
  247. ^ “Taylor Swift gets mixed reviews at Grammys”. The Tennessean. ngày 1 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
  248. ^ Roland, Tom (ngày 15 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift: The Billboard Cover Story”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012.
  249. ^ Caramanica, Jon (ngày 20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Is Angry, Darn It”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
  250. ^ Kelly, James (ngày 26 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift: Writing her own songs – and rules”. The Atlanta Journal-Constitution. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  251. ^ “Taylor Swift in Her Own Words: Teen Vogue Cover Shoot”. Teen Vogue. tháng 8 năm 2011. ISSN 1540-2215. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.
  252. ^ Cairns, Dan (ngày 5 tháng 3 năm 2009). “Swift rise of the anti-diva”. The Australian. Bản gốc lưu trữ Tháng 1 16, 2016. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  253. ^ a b Newman, Melinda (19 tháng 12 năm 2008). “Taylor Swift Sessions Interview”. AOL. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2011.
  254. ^ Bream, Jon (ngày 7 tháng 12 năm 2007). “Music: OMG! Taylor's senior year”. Star Tribune. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  255. ^ “Swift starts world tour in Asia, pushes "Speak Now' in NY”. Country Standard Time. ngày 23 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  256. ^ “News: 20 Questions With Taylor Swift”. CMT. ngày 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  257. ^ McCafferty, Dennis (ngày 13 tháng 4 năm 2008). “Taylor's Swift rise”. USA Weekend. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012.
  258. ^ “Interview with Taylor Swift”. Time. ngày 23 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  259. ^ “Taylor Swift Style: Singer Won't Take Her Clothes Off, Wants People To Focus On Music”. The Huffington Post. ngày 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015.
  260. ^ “InStyle meets country singing sensation Taylor Swift”. InStyle UK. ngày 26 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012.
  261. ^ Bonaguro, Alison (ngày 25 tháng 7 năm 2011). “News: Offstage: Taylor Swift Plays Dixie Chicks for a Dixie Chick”. CMT. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  262. ^ Roland, Tom (ngày 2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  263. ^ “Taylor Swift Goes Record Shopping with EW”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  264. ^ “Taylor Swift's Favorite Music”. The Oprah Winfrey Show. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  265. ^ Widdicombe, Lizzie. “Taylor Swift Makes Primness Lucrative”. The New Yorker. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  266. ^ Vena, Jocelyn (ngày 26 tháng 1 năm 2009). “Taylor Swift Blogs About 'Life-Changing' Cameo On 'CSI,' Britney Spears Poster”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  267. ^ “Taylor Swift Loves Hanson”. Fox.com.au. ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  268. ^ “Taylor Swift Tweets Her Love of Dashboard Confessional”. Taste of Country. ngày 1 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  269. ^ Bonaguro, Alison (ngày 10 tháng 8 năm 2011). “News: Offstage: Taylor Swift Covers Fall Out Boy”. CMT. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  270. ^ a b c “See Taylor Swift's List of Music You Should Hear”. Amazon.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  271. ^ “Taylor Swift talks about Red”. Chicago Tribune. ngày 18 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  272. ^ Us Weekly: Taylor Swift Inside My World, "What's on my iPod?", page 24
  273. ^ Kaufman, Gil (ngày 4 tháng 4 năm 2016). “Taylor Swift Calls Justin Timberlake 'Hero' & 'All Time Fav' After iHeartRadio Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2016.
  274. ^ Austin Scaggs (ngày 18 tháng 8 năm 2011). “Q&A: Taylor Swift by Austin Scaggs”. Rolling Stone. tr. 28.
  275. ^ a b Mansfield, Brian (ngày 23 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift learns to 'Speak Now,' reveal her maturity”. USA Today. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  276. ^ “Rolling in the Trophies? – Adele”. People. ngày 6 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012.
  277. ^ “Taylor Swift Goes Record Shopping with EW”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  278. ^ “Our Interview with Taylor Swift”. Channelguidemagblog.com. ngày 2 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  279. ^ Van Meter, Jonathan (ngày 17 tháng 1 năm 2012). “Taylor Swift: The Single Life”. Vogue. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012.
  280. ^ Adams, Cameron (ngày 16 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift is happy to be your break-up musician”. News.com.au. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
  281. ^ Eells, Josh (ngày 8 tháng 9 năm 2014). “The Reinvention of Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2016.
  282. ^ Farley, Christopher John (22 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift's Solo Act”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012.
  283. ^ Caramanica, Jon (ngày 20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Is Angry, Darn It”. The New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012.
  284. ^ “John Mayer: Taylor Swift's 'Dear John' Song 'Humiliated Me'. Rolling Stone. 6 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
  285. ^ Weber, Theon (ngày 3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift – Page 1 – Music – New York”. The Village Voice. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012.
  286. ^ “Stop Asking Taylor Swift to Apologize for Writing Songs About Ex-Boyfriends – The Cut”. New York. 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  287. ^ “Her Song: Talking Taylor Swift – Post Rock”. The Washington Post. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012.
  288. ^ Dominus, Susan (16 tháng 11 năm 2012). “The Many Insecurities of Taylor Swift”. The New York Times.
  289. ^ “Cover Preview: Taylor Swift Fights Back About Her Love Life, the Hyannis Port House—and Has Words for Tina Fey and Amy Poehler”. Vanity Fair. 5 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  290. ^ Willman, Chris (10 tháng 10 năm 2010). “Princess Crossover”. New York. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  291. ^ Kelly, James (ngày 26 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift: Writing her own songs – and rules”. The Atlanta Journal-Constitution. Bản gốc lưu trữ Tháng 9 29, 2009. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  292. ^ “Microwaving a tragedy: The marriage of romance and romanticism in '00s pop”. Las Vegas Weekly. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012.
  293. ^ Rotman, Natalie (9 tháng 1 năm 2009). “Colbie Caillat has 'Breakthrough' with sophomore CD”. Reading Eagle. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012.
  294. ^ a b Weber, Theon (ngày 3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift”. The Village Voice. New York. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012.
  295. ^ Rosen, Jody (13 tháng 11 năm 2008). “Fearless”. Rolling Stone. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  296. ^ “Taylor Swift: Red | Music Review”. Slant Magazine. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  297. ^ a b Meddings, Jacqui (31 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift is our new cover goddess”. Cosmopolitan. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  298. ^ “The Taylor Swift Slut-Shaming Continues – The Cut”. New York. 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013.
  299. ^ Chang, Bee-Shyuan (15 tháng 3 năm 2013). “Taylor Swift Gets Some Mud on Her Boots”. The New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
  300. ^ “On the Road with Best Friends Taylor Swift and Karlie Kloss”. Vogue. 13 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015.
  301. ^ Grigoriadis, Vanessa (ngày 5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2016.
  302. ^ Willman, Chris (17 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift Tapes VH1 'Storytellers'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  303. ^ Moss, Hilary (2 tháng 4 năm 2012). “Michelle Obama Honors Taylor Swift, Taylor Swift So Honored”. New York. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  304. ^ Pacella, Megan (ngày 15 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift Reflects on Meeting First Lady Michelle Obama”. Taste of Country. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012.
  305. ^ Berg, Madeline (18 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift Vs. Katy Perry: Which Star Rules Social Media?”. Forbes. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2016.
  306. ^ Strecker, Erin (27 tháng 1 năm 2015). “Read Taylor Swift's Sweet Message to Bullied Fan”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015.
  307. ^ Stein, Jeannine; For (18 tháng 11 năm 2011). “Taylor Swift weighs in on being a role model”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  308. ^ “Billboard Music Awards: Taylor Swift thanks her fans for being her 'longest and best relationship'. Metro. 20 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.
  309. ^ Kessler, Zara (5 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Sexual Temptation”. Bloomberg L.P. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
  310. ^ Maresca, Rachel (4 tháng 2 năm 2014). “Taylor Swift: 'I find it relatively easy to keep my clothes on'. Daily News. New York. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016.
  311. ^ Holt, Emily (1 tháng 7 năm 2011). “American Idols: Icons of Stateside Style – Vogue Daily”. Vogue. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012.
  312. ^ “People's Best Dressed, Taylor Swift Best Dressed 2014”. People. 17 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
  313. ^ Powell, Hannah Lyons (ngày 24 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift wins Woman Of The Year award – ELLE Style Awards 2015”. Elle. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
  314. ^ Roy, Jessica (18 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift Tops the 2015 Maxim Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
  315. ^ Nicks, Stevie (29 tháng 4 năm 2010). “The 2010 Time 100: Taylor Swift”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012.
  316. ^ Vena, Jocelyn (16 tháng 4 năm 2015). “Taylor Swift, Kanye West, Kim Kardashian Make Time's 100 Most Influential People List”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.
  317. ^ Greenburg, Zack O'Malley (14 tháng 12 năm 2011). “The Top-Earning Women In Music 2011”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
    Greenburg, Zack O'Malley (ngày 12 tháng 12 năm 2012). “The Top-Earning Women In Music 2012”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
    Greenburg, Zack O'Malley (11 tháng 12 năm 2013). “The Top-Earning Women In Music 2013”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
    Greenburg, Zack O'Malley (ngày 4 tháng 11 năm 2014). “The Top-Earning Women In Music 2014”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
    Greenburg, Zack O'Malley (4 tháng 11 năm 2015). “The World's Highest-Paid Women In Music 2015”. Forbes. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2015.
  318. ^ “#8 Taylor Swift”. Forbes. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015.
  319. ^ “Celebrity 100 2011”. Forbes. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.
    Schumann, Rebecka (26 tháng 5 năm 2013). “Forbes Lists Top 100 Most Powerful Celebrities in 2013: Oprah Winfrey Takes Number One Spot [Full list]”. International Business Times. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.
    Greenburg, Zack O'Malley (29 tháng 6 năm 2015). “Celebrity 100: The World's Highest-Paid Superstars Of 2015”. Forbes. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.
    Greenburg, Zack O'Malley (11 tháng 7 năm 2016). “Taylor Swift Is The World's Top-Earning Celebrity With $170 Million In 2016”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  320. ^ Greenburg, Zack O'Malley (5 tháng 6 năm 2017). “Taylor Swift's Net Worth: $280 Million In 2017”. Forbes. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017.
  321. ^ McDuling, John (3 tháng 11 năm 2014). “Why Taylor Swift is the most important artist of the millennial era”. Quartz. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  322. ^ “The 17 Musicians Gen Z & Millennials Say Represent Their Generations”. YPulse. 8 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  323. ^ Roland, Tom (7 tháng 7 năm 2016). “Love Story: The Impact of Taylor Swift's First Decade in Music”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  324. ^ Rosen, Jody (17 tháng 11 năm 2013). “Why Taylor Swift Is the Reigning Queen of Pop”. Vulture. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  325. ^ Smith, Neil (ngày 22 tháng 6 năm 2015). “Five ways Taylor Swift is changing the world”. BBC. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  326. ^ Catucci, Nick (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift Reaches For New Heights of Personal and Musical Liberation on 'Lover'. Rolling Stone. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  327. ^ Tannenbaum, Rob (12 tháng 9 năm 2014). “4 Ways Billboard Woman of the Year Taylor Swift Changed Country Music”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  328. ^ O'Connor, Roisin (18 tháng 10 năm 2018). “Half of all new guitar players are women, a study has found”. Independent. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  329. ^ Ritchie, Mike (8 tháng 3 năm 2020). “Why Taylor Swift is making the ukulele cool again”. The Herald. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  330. ^ Wang, Amy (25 tháng 11 năm 2019). “The 50 Most Important Music Moments of the Decade”. Rolling Stone. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  331. ^ Sutherland, Mark (13 tháng 12 năm 2019). 'I come with opinions about how we can better our industry': Taylor Swift - The Music Week interview”. Music Week. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  332. ^ Sisario, Ben (6 tháng 11 năm 2014). "Sales of Taylor Swift's '1989' Intensify Streaming Debate”. The New York Times. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  333. ^ Leonard, Devin (13 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Is the Music Industry”. Bloomberg. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  334. ^ Singh-Krutz, Sangeeta; Kopf, Dan (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift is the only artist who still sells CDs”. Quartz. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
  335. ^ Kilpatrick, Mary (17 tháng 7 năm 2018). “Why Taylor Swift is a feminist icon”. Cleveland. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  336. ^ Ebbitt, Katherine (21 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift is my feminist hero”. Global Citizen. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  337. ^ Savage, Mark (13 tháng 12 năm 2019). “Taylor Swift blasts 'toxic male privilege' during Woman Of The Decade speech”. BBC News. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  338. ^ “Taylor Swift Will Receive First-Ever Woman of the Decade Honor at Billboard's Women in Music”. Billboard. 18 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  339. ^ De, Elizabeth (25 tháng 11 năm 2019). “Taylor Swift Is Named Artist of the Decade at AMAs 2019”. Teen Vogue. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  340. ^ Rosa, Christopher (24 tháng 12 năm 2019). “Taylor Swift Is the Artist of the Decade—Whether You Like It or Not”. Glamour. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  341. ^ Larocca, Courtney (13 tháng 12 năm 2019). “Taylor Swift is the artist of the decade”. Insider. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  342. ^ Zoladz, Lindsay (31 tháng 12 năm 2019). “Taylor Swift Bent the Music Industry to Her Will”. Vulture. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  343. ^ Asmelash, Lea; Scottie, Andrew (31 tháng 12 năm 2019). “The 10 artists who transformed music this decade”. CNN. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  344. ^ “15 Times Taylor Swift Proved She Is A Style Icon”. Minq.com. 31 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2021.
  345. ^ “The Ultimate Taylor Swift–Style Guide to Fall Fashion”. More. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2021.
  346. ^ Nurick, Jen (22 tháng 4 năm 2020). “Why Taylor Swift has become one of the world's biggest sustainable fashion influencers”. Vogue. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  347. ^ “Taylor Swift album cover boosts vintage Polaroid sales”. The New Zealand Herald. 8 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  348. ^ Artaius, James (11 tháng 2 năm 2019). “Fujifilm instax cameras sales hit 900,000 a month, thanks to Taylor Swift”. Digital Camera World. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  349. ^ Snapes, Laura (9 tháng 10 năm 2018). “Spike in voter registrations after Taylor Swift pro-Democrat Instagram post”. The Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  350. ^ Richards, Will (29 tháng 10 năm 2020). “Taylor Swift and Tom Hanks among most influential celebrities in 2020 US election”. NME. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  351. ^ “Year in Review: The 50 Best Albums of 2020”. Rolling Stone. 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  352. ^ “The Best Albums Of 2020”. Uproxx. 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  353. ^ “The First (And Hopefully Last) Quarries In which we award the most scrappy, absurd, ingenious works that shaped our year in quarantine”. Vulture. 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  354. ^ Maitland, Hayley (1 tháng 9 năm 2020). “The Best, Worst & Downright Ugliest Moments Of Lockdown Culture”. Vogue. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  355. ^ Lange, Jeva (25 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift has made the first great pandemic art”. The Week (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  356. ^ Havens, Lyndsey (29 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift, Dua Lipa and More Innovated In the Pandemic — But What Strategies Will Stick?”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  357. ^ Iyer, Kahini (28 tháng 12 năm 2020). “How Taylor Swift Bottled 2020's Ennui in Two Sublime Albums”. Yahoo! News. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2020.
  358. ^ Rosen, Judy (11 tháng 3 năm 2020). “Jack Antonoff Is Only Making Music With Friends”. The New York Times Magazine. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  359. ^ Wass, Mike (25 tháng 11 năm 2015). “Popping Up: Ruth B”. Idolator. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
  360. ^ Curto, Justin (6 tháng 10 năm 2020). “Taylor Swift, Canadian Singer-Songwriters, and More Influences on Shamir”. Vulture. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  361. ^ Thompson, Gayle (10 tháng 2 năm 2020). “Kelsea Ballerini Credits Taylor Swift With Inspiring Her to Move to Nashville”. CBS Interactive. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2020.
  362. ^ Stefano, Angela (30 tháng 4 năm 2021). “Interview: Priscilla Block Loves Hard, Breaks Harder on Debut EP”. Taste of Country (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  363. ^ Hight, Jewly (23 tháng 6 năm 2017). “World Cafe Nashville: Bailey Bryan”. NPR. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020.
  364. ^ Rowley, Glenn (26 tháng 11 năm 2020). “Camila Cabello Calls Taylor Swift Her 'Biggest Inspiration' After Epic AMAs Performance”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2020.
  365. ^ Carpenter, Sabrina [@SabrinaAnnLynn] (13 tháng 12 năm 2014). “My first cover on YouTube was Picture to Burn. I was 9 and weird. But I was inspired by this lady ever since. Happy Bday @taylorswift13 xx” (Tweet). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2021 – qua Twitter.
  366. ^ Blais-Billie, Braudie (28 tháng 4 năm 2017). “Disney's Rising Fashion Icon Sofia Carson Talks 'Back to Beautiful' & Hosting the Radio Disney Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  367. ^ “The Chainsmokers On Rising Hit "Roses". Idolator. 23 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015.
  368. ^ Scott, Jason (29 tháng 3 năm 2016). “Daya Discusses Her New Single 'Sit Still, Look Pretty,' Teases Debut Full-Length”. PopDust. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2021.
  369. ^ “Billie Eilish Hilariously Reacts to Britney Spears Playing Her Music | Entertainment Tonight”. www.etonline.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2021.
  370. ^ Young, Martyn (9 tháng 8 năm 2021). “Frances Forever: "I had to make a project to really show people what I can do". Dork. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2021.
  371. ^ “Selena Gomez Inspired By Taylor Swift On Her New "Grown-Up" Album 'Stars Dance'. Capital FM. 25 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
  372. ^ “Taylor Swift is an inspiration to me: Ellie Goulding”. The Indian Express. 16 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2016.
  373. ^ Rowley, Glenn (7 tháng 4 năm 2020). “Conan Gray Talks Taylor Swift In Apple Music Interview”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2020.
  374. ^ Ruth, Wolfgang (30 tháng 4 năm 2021). “7 Influences on girl in red's Debut, From (Yes) Taylor Swift to a Serious Lack of Serotonin”. Vulture. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  375. ^ “Griff Is Pop's Next Powerhouse—And She Makes Her Own Clothes, Too”. Vogue. 15 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2021.
  376. ^ “Halsey, Todrick Hall & More Send Messages of Support To Taylor Swift”. Billboard. 30 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020.
  377. ^ “Niall Horan: 'Taylor Swift is one of the greatest songwriters of her generation'. Music-News.com. 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2020.
  378. ^ “EXCLUSIVE: Little Mix Are HUGE Fans Of Taylor Swift: "She's Lovely To Be Around". Capital FM. 27 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2021. She’s just very inspiring, just being with her, being on stage with her, we learned a lot. She’s incredible.
  379. ^ “Shawn Mendes Honours Taylor Swift With Heartfelt Letter On How She's Inspired Him”. 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2020.
  380. ^ Kaplan, Ilana. “Soccer Mommy on How Nashville, Mitski & Taylor Swift Influenced Her Sound”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2021.
  381. ^ “Maren Morris Interview on 'Girl' Album and Tour”. Billboard. 8 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2020.
  382. ^ Schiller, Rebecca (3 tháng 9 năm 2018). “Get to Know 'Somebody Special' Singer-Songwriter Nina Nesbitt: Watch”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2020.
  383. ^ “Indonesian singer Niki opened for Taylor Swift when she was 15 | The Star”. www.thestar.com.my. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  384. ^ Cerio, Michael (11 tháng 2 năm 2020). “Exclusive: Finneas on His Secret Sibling Language With Billie Eilish and Those Taylor Swift Rumors”. Radio.com. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2020.
  385. ^ “Griff & Maisie Peters Recreate Taylor Swift's 'Exile' in Just One Hour”. Billboard. 16 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
  386. ^ Seaman, Duncan (1 tháng 8 năm 2019). “Freya Ridings on her meteoric rise to fame and her debut album”. The Yorkshire Post. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2021.
  387. ^ Nesvig, Kara (23 tháng 4 năm 2020). “Taylor Swift Praised "HSM" Series Star Olivia Rodrigo's "Cruel Summer" Cover”. Teen Vogue. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020.
  388. ^ 73 Questions With Troye Sivan. Vogue. 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2020 – qua YouTube.
  389. ^ “Slayyyter Is 2018 Pop, Inspired By 2007 Britney, Lindsay, and Paris”. Paper (bằng tiếng Anh). 15 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
  390. ^ Appleford, Steve (23 tháng 8 năm 2013). “Behind Tegan and Sara's Big Night With Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016.
  391. ^ “Why We're Infatuated with Tessa Violet”. The Fullest. 7 tháng 8 năm 2018.
  392. ^ Akingbade, Tobi (2 tháng 3 năm 2019). “The Vamps reveal they really want to work with Taylor Swift again: 'She revolutionised music'. Metro. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
  393. ^ Jones, Damian (6 tháng 1 năm 2021). “Hayley Williams says she is recording her "own 'Folklore'"”. NME. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2021.
  394. ^ “Zahara dedica a Taylor Swift el adelanto de su próximo disco” [Zahara dedicates the advancement of her next album to Taylor Swift]. Chicago Tribune (bằng tiếng Tây Ban Nha). 12 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2021.
  395. ^ Couch, Robbie (2 tháng 3 năm 2015). “Taylor Swift Named Most Charitable Celeb For Supporting Feminist Causes, Education, More”. The Huffington Post. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  396. ^ Pacella, Megan (13 tháng 6 năm 2012). “Taylor Swift Receives Star of Compassion Award”. Taste Of Country. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2015.
  397. ^ “Taylor Swift to Receive 'Big' Honor From Michelle Obama at Kids' Choice Awards”. Taste of Country. 27 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012.
  398. ^ “Taylor Swift Honored With RFK Center's Ripple of Hope Award”. PR Newswire. 4 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  399. ^ “Taylor Swift donates $100,000 to victims of Iowa Flood”. People. 9 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009.
  400. ^ “Kylie to play at Sound Relief with Coldplay, Midnight Oil”. The Daily Telegraph (Úc). 8 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ Tháng 9 24, 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. templatestyles stripmarker trong |work= tại ký tự số 43 (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  401. ^ Vena, Jocelyn (26 tháng 1 năm 2010). “Better Than Ezra 'Honored' By Taylor Swift's Performance Of 'Breathless' At Haiti Telethon – Music, Celebrity, Artist News”. MTV. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012.
  402. ^ Talbott, Chris (7 tháng 5 năm 2010). “Taylor Swift Donates $500,000 to Nashville Flood Relief”. CNS News. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2016.
  403. ^ Lewis, Randy (23 tháng 5 năm 2011). “Taylor Swift benefit concert raises more than $750,000 for tornado victims”. Los Angeles Times (Blog). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  404. ^ “Taylor Swift Sends 'Love and Support' to Hurricane Sandy Victims, Asks Fans to Help 'Restore the Shore'. Taste of Country. 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014.
  405. ^ “Taylor Swift gives $1m to help Louisiana flood relief efforts”. The Guardian. 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
  406. ^ “Taylor Swift becomes namesake of Hendersonville High School auditorium”. The Tennessean (Blog). ngày 23 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011.
  407. ^ Mckinley, James C. (17 tháng 5 năm 2012). “Taylor Swift to Donate $4 Million to the Country Hall of Fame”. The New York Times (Blog). Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  408. ^ Golden, Zara (1 tháng 10 năm 2012). “And The Taylor Swift VH1 Storytellers Contest Winner Is ... Harvey Mudd College! – | VH1 Tuner”. VH1. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014.
  409. ^ Sanz, Cynthia (14 tháng 12 năm 2009). “Taylor Swift Gives Big as She Turns 20 – Good Deeds, Taylor Swift”. People. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012.
  410. ^ “Taylor Swift donates 6,000 books to Reading Library”. Reading Eagle. 14 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012.
  411. ^ “Taylor Swift Donates 14,000 Books to Nashville Public Library”. Taste of Country. 2 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012.
  412. ^ “Taylor Swift, Scholastic donate books to Reading Hospital | Regional: Berks – Home”. Wfmz.com. 18 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  413. ^ Zhu, Danielle (17 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift partners with Scholastic to donate 25,000 books”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  414. ^ “Taylor Swift Helps With 'Delete Online Predators' Campaign”. Nash Country Weekly. 18 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ Tháng 1 16, 2016. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày lưu trữ= (trợ giúp)
  415. ^ “Sound Matters – Taylor Swift”. Sound Matters. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2015.
  416. ^ Nguồn
  417. ^ “Taylor Swift and ACM Lifting Lives present $50,000 donation to St. Jude”. The Tennessean (Blog). 13 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012.
  418. ^ “New and Hot Video: Taylor Swift Debuts 'Ronan' at Stand Up To Cancer Benefit”. Rolling Stone. 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
  419. ^ “Dick Vitale holds annual fundraiser for pediatric cancer”. Tampa Bay Times. 17 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2014.
  420. ^ “Taylor Swift donates $50K to CHOP to help teens with cancer”. The Business Journals (Blog). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2014.
  421. ^ Nguồn
  422. ^ Hardiman, Tim (20 tháng 4 năm 2007). “Taylor Swift Encourages Teen Volunteers”. CMT. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  423. ^ Aniftos, Rania (23 tháng 10 năm 2018). “A Timeline of Taylor Swift's Generosity”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  424. ^ Vagianos, Alanna (17 tháng 8 năm 2017). “This Is How Taylor Swift's Donations Will Impact Sexual Assault Survivors”. Huffington Post. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  425. ^ Aniftos, Rania (8 tháng 4 năm 2019). “Taylor Swift Donates $113,000 to Tennessee Equality Project to Fight Anti-LGBTQ Bills”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  426. ^ “Taylor Swift Makes a Generous Donation to GLAAD in Support of the LGBTQ Community”. GLAAD. 1 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  427. ^ Peppin, Hayley (24 tháng 3 năm 2020). “Taylor Swift responded to the leaked 'Famous' phone call with Kanye West by urging fans to instead focus on coronavirus aid”. Insider. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  428. ^ Havens, Lyndsey (18 tháng 4 năm 2020). “Taylor Swift Sings Heart-Rending 'Soon You'll Get Better' During 'One World' Concert: Watch”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  429. ^ Bailey, Alyssa (9 tháng 6 năm 2020). “Taylor Swift Tweeted About The Black Lives Matter Movement And Urged People To Vote”. Elle. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  430. ^ “Taylor Swift's cash gift helps student take up degree”. BBC News. 20 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  431. ^ Hoby, Hermione (23 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift: 'Sexy? Not on my radar'. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  432. ^ . Lifetime. 30 tháng 5 năm 2008 [Every Woman Counts: Funny Taylor Swift Interview Before 2008 ACM Awards Every Woman Counts: Funny Taylor Swift Interview Before 2008 ACM Awards] Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp). Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020. |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  433. ^ O'Malley, Katie (13 tháng 12 năm 2019). “Taylor Swift Just Delivered Her Most Feminist, Badass Speech Yet And We're Giving It A Standing Ovation”. Elle. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  434. ^ “The 300+ Original TIME'S UP Signatories”. Time's Up. 21 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  435. ^ “Taylor Swift sends 'love' and 'respect' to LGBT fans”. BBC News. 4 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  436. ^ Malkin, Marc (10 tháng 3 năm 2008). “Portia Joins Ellen to Stop the Hate”. E!. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  437. ^ Hawgood, Alex (5 tháng 11 năm 2010). “For Gays, New Songs of Survival”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  438. ^ Wiest, Brianna (18 tháng 6 năm 2016). “Taylor Swift Posts Handwritten Message to Families of Orlando Victims”. Teen Vogue. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  439. ^ Kreps, Daniel (1 tháng 6 năm 2019). “Taylor Swift Urges Senate to Pass Equality Act in Letter to Tennessee Senator”. Rolling Stone. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  440. ^ McCarthy, Tyler (27 tháng 8 năm 2019). “White House responds to Taylor Swift's Equality Act petition, says the bill in its 'current form is filled with poison pills'. Fox News. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  441. ^ Lipshutz, Jason (27 tháng 8 năm 2019). “The 16 Best Moments from the 2019 MTV Video Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  442. ^ Lynch, Joe (26 tháng 6 năm 2020). “Taylor Swift Calls Out U.S. Census for Transgender Erasure”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  443. ^ Macsai, Dan (19 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift on Going Pop, Ignoring the Gossip and the Best (Worst) Nickname She's Ever Had”. Time. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  444. ^ Zimmerman, Amy (8 tháng 10 năm 2018). “Taylor Swift Finally Got Political. Why Now?”. The Daily Beast. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  445. ^ Lynch, Joe (23 tháng 3 năm 2018). “Taylor Swift shared a rare political statement in support of gun control”. Business Insider. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  446. ^ Parkinson, Hannah Jane (8 tháng 10 năm 2018). “Taylor Swift finally makes a political intervention – will it sway voters?”. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  447. ^ Buitrago, Juan (9 tháng 10 năm 2018). “What about her reputation? Taylor Swift's politics draw praise, backlash”. USA Today. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  448. ^ Stevens, Matt (7 tháng 10 năm 2020). “Taylor Swift, leaning further into politics, endorses Joe Biden and Kamala Harris”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  449. ^ Bilstein, Jon (30 tháng 10 năm 2020). “Taylor Swift Lends 'Only the Young' to New Political Ad”. Rolling Stone. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  450. ^ Hiatt, Brian (18 tháng 9 năm 2019). “In her most in-depth and introspective interview in years, Swift tells all about the rocky road to 'Lover' and much, much more”. Rolling Stone. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  451. ^ Snapes, Laura (24 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift: 'I was literally about to break'. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  452. ^ Aniftos, Rania (5 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Supports Justice for Ahmaud Arbery, Calls His Death 'Senseless, Cold Blooded, Racially Motivated'. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  453. ^ Parker, Ryan (29 tháng 5 năm 2020). “Taylor Swift Blasts Trump for "Shooting" Tweet: "We Will Vote You Out in November". The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  454. ^ “Taylor Swift, local celebrities join plea to junk anti-terrorism bill”. CNN. 3 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  455. ^ Beaumont=Thomas, Ben (10 tháng 6 năm 2020). “Taylor Swift: 'Racial injustice has been ingrained in US state government'. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  456. ^ Kreps, Daniel (12 tháng 6 năm 2020). “Taylor Swift Calls for Removal of Monuments That 'Celebrate Racist Historical Figures'. Rolling Stone. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  457. ^ France, Lisa Reapers (19 tháng 6 năm 2020). “Taylor Swift got educated on Juneteenth and wants you to be, too”. CNN. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  458. ^ “Taylor Swift at Top for Fourth Week”. Great American Country. 20 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012.
  459. ^ “Taylor Swift Launches Sundress Line – Ready-to-Wear and Sportswear – Media”. Women's Wear Daily. 29 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012.
  460. ^ “Taylor Swift to have greeting card line”. USA Today. 18 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012.
  461. ^ Serpe, Gina (29 tháng 10 năm 2008). “Taylor Swift Gets All Dolled Up”. E!. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2010.
  462. ^ “Taylor Swift: NHL's New Spokesperson”. AOL. 3 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2010.
  463. ^ “Sony Electronics News and Information”. Sony. 26 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012.
  464. ^ Vena, Jocelyn (4 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift Shares Her Rock-Star Life In 'Band Hero'. MTV. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012.
  465. ^ Garcia, Jennifer (27 tháng 10 năm 2009). “Photo: Taylor Swift Rocks Out for Band Hero”. People. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2016.
  466. ^ “Target lands Taylor Swift exclusive – Minneapolis / St. Paul Business Journal”. The Business Journals. Bản gốc lưu trữ Tháng 3 4, 2016. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  467. ^ Bratskeir, Anne (3 tháng 5 năm 2010). “Taylor Swift, a new CoverGirl”. Newsday. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012.
  468. ^ Nika, Colleen (ngày 3 tháng 7 năm 2012). “Taylor Swift to Launch Second Fragrance, 'Wonderstruck Enchanted'. Rolling Stone. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  469. ^ “First Look Taylor Swift Flies High in New Target Commercial”. E!. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
  470. ^ “Taylor Swift Plans TV Appearances For 10/22 Launch Of "Red" Album, Paid Song Downloads Top 3.8 Million In Advance Of Release”. PR Newswire. 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  471. ^ Hampp, Andrew (9 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift Teams With Walgreens For Exclusive Store To Promote 'Red'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  472. ^ “Diet Coke Signs Taylor Swift As Brand Ambassador”. Advertising Age. ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015.
  473. ^ DelliCarpini Jr., Gregory (29 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift Reveals Third Fragrance: Taylor by Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  474. ^ Sciarretto, Amy (24 tháng 12 năm 2012). “Taylor Swift Is Photogenic in Sony Camera Commercial”. Taste Of Country. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  475. ^ “American Greetings Sends Taylor Swift Greeting Card Mobile App Abroad”. PR Newswire. 24 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  476. ^ Corosu, Irene (17 tháng 6 năm 2014). “AirAsia unveiled as the official airline of Taylor Swift's Red Tour throughout South East Asia”. PHAR Partnerships. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  477. ^ “Qantas named exclusive official airline for Australia and New Zealand leg of Taylor Swift's The Red Tour”. Qantas. 21 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  478. ^ Reed, Chris (25 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift melts Cornetto's brand image in Asia”. Campaign Asia. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  479. ^ “Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2014.
  480. ^ Mychaskiw, Marianne (1 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Is Launching Her Fourth Fragrance!”. InStyle. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  481. ^ Rutherford, Kevin (18 tháng 5 năm 2016). “How Taylor Swift's Apple Music Ads Helped Drake, Future, the Darkness and Jimmy Eat World”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  482. ^ McIntyre, Hugh (11 tháng 9 năm 2018). “Taylor Swift Has Signed A Multi-Year Deal With AT&T”. Forbes. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  483. ^ Huddleston Jr., Tom (4 tháng 10 năm 2016). “All About Taylor Swift's 'Multi-Year' Deal with AT&T”. Fortune. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  484. ^ Chen, Joyce (7 tháng 9 năm 2017). “Taylor Swift Spars With Andy Samberg, Steals Cookie Dough in Promo Video”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  485. ^ “Taylor Swift Rides a Magical Caticorn in DirectTV NOW Commercial”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  486. ^ “UPS Is The Official Delivery Partner For Taylor Swift's 6th Studio Album reputation” (Thông cáo báo chí). Atlanta, Georgia. 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  487. ^ Mele, Sofia (22 tháng 8 năm 2018). “Taylor Swift Unveils Her Special-Edition Instax Camera: Watch the Videos”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  488. ^ Collins, Katie (22 tháng 8 năm 2018). “Taylor Swift teases her special edition Instax camera in three videos”. CNET. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  489. ^ “Capital One Announces Exclusive Partnership with 10-time GRAMMY Award-Winning Artist Taylor Swift” (Thông cáo báo chí). McLean, Virginia: Cision. 26 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  490. ^ Yotka, Steff (20 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift and Stella McCartney Reveal Their Lover Fashion Collaboration”. Vogue. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  491. ^ “Taylor Swift”. Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  492. ^ “Winners of 3 American Music Awards”. taylorswift.com. ngày 22 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  493. ^ Caulfield, Keith (31 tháng 5 năm 2016). “Top Billboard Music Award Winners of All Time (1990-2016)”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2017.
  494. ^ “Taylor Swift Nashville Tickets”. Excite. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015.
  495. ^ Friedlander, Whitney (10 tháng 9 năm 2015). “Taylor Swift, Jimmy Fallon Among Juried Emmy Award Winners”. Variety. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  496. ^ Shelburne, Craig (ngày 18 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Named NSAI's Songwriter-Artist of the Year”. CMT. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015.
  497. ^ “Songwriters Hall of Fame”. Songwriters Hall of Fame. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015.
  498. ^ “Bob Dylan – 100 Greatest Songwriters of All Time”. Rolling Stone.
  499. ^ “Greatest of All Time Artists”. Billboard.
  500. ^ “The 100 Greatest Music Video Artists of All Time: Staff List”. Billboard. 27 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  501. ^ Jolly, Nathan (17 tháng 11 năm 2019). “Why Taylor Swift is to blame for latest twist in music rights drama”. News.com.au.
  502. ^ “10 Life mantras by Taylor Swift to live by”. India Today. 13 tháng 12 năm 2016.
  503. ^ Lipshutz, Jason (11 tháng 12 năm 2019). “Billboard Woman of the Decade Taylor Swift: 'I Do Want My Music to Live On'. Billboard.
  504. ^ Caulfield, Keith (ngày 23 tháng 1 năm 2015). “Billboard 200 Chart Moves: Taylor Swift's '1989' Hits 4 Million in U.S. Sales”. Billboard.
  505. ^ “RIAA – Top Artists (Digital Singles)”. Recording Industry Association of America.
  506. ^ McIntyre, Hugh. “Taylor Swift Sold More Singles In The Past Decade Than Any Other Musician”. Forbes (bằng tiếng Anh).
  507. ^ O'Malley Greenburg, Zack (23 tháng 12 năm 2019). “From Taylor Swift To Dr. Dre: The 10 Top-Earning Musicians Of The Decade”. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  508. ^ Rolli, Bryan (14 tháng 3 năm 2020). “Taylor Swift's 'Shake It Off' Receives RIAA Diamond Certification”. Forbes.
  509. ^ “Taylor Swift's Reputation Stadium Tour Breaks Record for Highest-Grossing U.S. Tour”. Billboard. 30 tháng 11 năm 2018.

Liên kết ngoài