Wikipedia
Bức Văn quan vinh quy đồ (文官榮歸圖) hồi thế kỷ XVIII cho thấy một người đàn bà cắp nón ba tầm.
Họa phẩm của người Tây dương thế kỷ XIX mô tả người đàn bà Bắc Kỳ đội nón ba tầm.

Ba tầm[1] (Nôm: 𥶄𠀧尋)là vật dụng tránh nắng mưa,làm duyên của nữ giới Bắc Kỳ thời trung đại,được chứng thực bởi nhiều sử ký và họa phẩm.Thế kỷ 20 ba tầm được sử dụng hiếm hơn và thường chỉ hiện diện trong các lễ hội.

Nguồn gốcSửa đổi

Theo tư liệu của người Pháp cuối thế kỷ XIX, ba tầm được chuyển ngữ là Le chapeau de trois tầm[2] (3 fois 8 pouces: 1m20), trong đó, tầm là đơn vị đo chiều dài của người Á Đông.Theo sách Vũ trung tùy bút, nón ba tầm được kết hợp kiểu dáng của các thứ nón dâu, ngoan xác và viên cơ.

  • Ngoan xác lạp(黿殼笠)[3](nón mền giải蟹,Tam Giang lạp三江笠)dùng cho người già thời Lê trung hưng,đã thất truyền cuối thế kỷ XVIII
  • Toan bì lạp(酸皮笠)(nón vỏ bứa)dùng cho người nghèo,là nón giản lược làm cho thấp đi từ ngoan xác lạp.Thời Nguyễn,gọi là Thủy Thủ lạp
  • Cổ Châu lạp(古洲笠)(hoặc nón Dâu)(Les chapeaux des brus)dùng cho Họ hàng nhà quan mà cao tuổi,Đàn ông,đàn bà,sĩ thứ trong kinh thành.Đỉnh nhọn và có vành phẳng đính đôi chùm chỉ thao.
  • Viên cơ lạp(圓箕笠)[3]xuất hiện ở miền Thanh Nghệ.Thời Lê,dùng cho quân sĩ khi cuộc Loạn kiêu binh với dáng cao,gần giống như cái nia thóc(kết cấu gần mũ quan Đại Thanh).Thời Nguyễn,giản lược thành nón nhỏ như nón thúng nhưng vát vuông góc,nhỏ hơn ba tầm gọi là nón nghệ (le chapeau de Nghệ-an)dành cho nữ.Nón thúng(mục đồng lạp,Chapeau en forme de panier)dùng cho nam nữ làm đồng có dáng vát thon vào so với nón nghệ

Đặc điểmSửa đổi

Nón ba tầm được lợp bằng cọ hoặc gồi, có hình dạng như cái lọng hoặc tai nấm, đỉnh phẳng, đường kính nón khoảng 70–80 cm, vành cao 10–12 cm hoặc hơn. Lòng nón đính 1 cái vành hình phễu gọi là khùa hoặc khua (Nôm: 摳) để gia cố nón trên đầu người sử dụng. Ngoài ra, người ta thường kết vào vành nón đôi chùm chỉ thao sặc sỡ để làm duyên, là nón quai thao (Nôm: 𥶄乖絛).

Nghệ thuật hóaSửa đổi

Ca dao cổQuan họ Lý cây đaThi phẩm Chiếc nón quai thao
của nữ thi sĩ Anh Thơ
Ca khúc Du xuân
của nhạc sĩ An Thuyên
Chưa chồng nón thúng quai thao,
Chồng rồi nón rách quai nào thì quai.
Chưa chồng yếm thắm đeo hoa,
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành.

Trèo lên quan i dốc ngồi gốc í i cây đa,
ta à lý lý như cây đa í i

Thấy i cô phú lý tình là cô mặc áo vỏ già,
ta lý lý như nâu non ấy vỏ à già,
ta lý lý như nâu non i

Khăn thâm đầu dí,
ta à a lý lý như đội đầu,
ta à a lý lý như đội đầu ì

Nửa thương i phú lý tình là a thương bên nọ ấy nửa sầu,
ta lý lý như bên kia,
ấy nửa sầu ta lý lý như bên kia i

Áo lương năm ì i cúc,
ta à a lý lý như viền tà,
ta à a lý lý như viền tà ì

Ai may i phú lý tình là a cho người mặc,
ấy hay ì là ta lý lý như em may,
ấy hay là ta lý lý như em may i

Chẻ tre đan nón,
ta à a lý lý như ba tầm,
ta à a lý lý như ba tầm i

Ai i đan i phú lý tình là cho người đội ấy hôm à rằm,
tà a lý lý như tháng Giêng ấy hôm à rằm,
tà a lý lý như tháng Giêng

Tua óng tơ ngà tha thướt gió,
Vành vàng lá lụa nắng tươi xinh.
Khuôn hoa e lệ trong khuôn nón,
Si mắt chàng trai liếc gửi tình.

Nhưng dép cong nghiêm bước thẳng đường,
Ðâu ngờ tơ nón gió vương vương,
Chàng về, mắt đắm sầu xa vắng...
- Cả một trời xuân nhạt nắng hường !

Du xuân du xuân
Đã hẹn cùng tình
Đường xuân tơ non gót son
Nón ba tằm em xoay tròn tháng Giêng

Du xuân du xuân
Tơ trời nhè nhẹ
Hạt sương cho em ướt mi
Để cho bao chồi non xuân lộc biếc xanh

Thoáng áo tứ thân la đà trong gió
Ai ngẩn ngơ ai cho mùa xuân chín
Trên đôi môi hồng hoa cỏ ngất ngây

Cứ hát lới lơ phách nhịp thương nhớ
Gõ vào xuân vui men rượu mới nhấp
Ngỡ tiếng trống chèo rơi đầy lối quê

Đường xuân yếm đào đã hẹn cùng tình
Du xuân du xuân

Hình ảnhSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Đi tìm chiếc nón cổ của người Việt - Ngọc An // Báo Thanh Niên, 27.06.2016, 06:11 (GMT+7)
  2. ^ Nón
  3. ^ a ă G, N. “Nón đội” (HTML). Góc Nhìn. 
  4. ^ Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú thích, Nhà xuất bản Trẻ, Sài Gòn, 1989.

Liên kết ngoàiSửa đổi