Malaysia

quốc gia ở Đông Nam Á

Malaysia (phiên âm: Ma-lai-xi-a [7], còn được gọi tắt là Mã Lai[8]) là một quốc gia quân chủ lập hiến liên bang nằm tại phía nam của khu vực Đông Nam Á. Quốc gia này bao gồm 13 bang và ba lãnh thổ liên bang với tổng diện tích đất liền là 330,803 km². Malaysia bị tách làm hai phần qua biển Đông: Malaysia bán đảoBorneo thuộc Malaysia. Malaysia có biên giới trên bộ với Thái Lan, Indonesia, và Brunei, trong khi có biên giới trên biển với Singapore, Việt Nam, và Philippines, giáp biên giới với Campuchia qua Vịnh Thái Lan. Thành phố thủ đôKuala Lumpur, song nơi đặt trụ sở của chính phủ liên bang là Putrajaya. Năm 2010, dân số Malaysia được ước tính là 28,33 triệu người, trong đó 22,6 triệu sinh sống tại phần Bán đảo. Malaysia có điểm cực nam của đại lục Á-ÂuTanjung Piai. Malaysia là một quốc gia nhiệt đới và là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh học nhất trên thế giới, với nhiều loài đặc hữu.

Malaysia
Flag of Malaysia.svgCoat of arms of Malaysia.svg
Quốc kỳHuy hiệu
Bản đồ
Vị trí của Malaysia
Vị trí của Malaysia (xanh) trên thế giới
Vị trí của Malaysia
   Malaysia   ASEAN
Tiêu ngữ
Bersekutu Bertambah Mutu[1]
"Đoàn kết tạo nên lực lượng"
Quốc ca
Negaraku
Nước ta
Hành chính
Chính phủQuân chủ lập hiến Liên bang Đại nghị chế
VuaAbdullah Sultan Ahmad Shad
Thủ tướngIsmail Sabri Yaakob
Lập phápNghị viện Malaysia
Thượng việnDewan Negara
Hạ việnDewan Rakyat
Thủ đôKuala Lumpur
Putrajaya (hành chính)
2°30′N 112°30′E
2°30′B 112°30′Đ / 2,5°B 112,5°Đ / 2.500; 112.500
Thành phố lớn nhấtKuala Lumpur
Địa lý
Diện tích330,803 km² (hạng 66)
Diện tích nước0,3 %
Múi giờMST (UTC+8)
Lịch sử
Độc lập
31 tháng 8 năm 1957[2]Malaya độc lập từ Anh Quốc
16 tháng 9 năm 1963Liên bang của Malaya với Sabah, SarawakSingapore²
Ngôn ngữ chính thứctiếng Malaysia
Sắc tộc
Tôn giáo
Dân số ước lượng (2021)33.552.000[3] người (hạng 42)
Dân số (2010)28,334,135[4] người
Mật độ92 người/km² (hạng 116)
Kinh tế
GDP (PPP) (2020)Tổng số: 900.4 tỷ USD
(hạng 29)
Bình quân đầu người: 27.287 USD
(hạng 51)
GDP (danh nghĩa) (2020)Tổng số: 336.3 tỷ USD (hạng 40)
Bình quân đầu người: 10.192 USD (hạng 60)
HDI (2018)0.804 Rất cao (hạng 61)
Hệ số Gini (2015)41[5] cao (hạng 36)
Đơn vị tiền tệRinggit (RM) (MYR)
Thông tin khác
Tên miền Internet.my, مليسيا.[6]
Mã điện thoại+60¹

Malaysia có nguồn gốc từ các vương quốc Mã Lai hiện diện trong khu vực và từ thế kỷ XVIII, các vương quốc này bắt đầu lệ thuộc vào Đế quốc Anh. Các lãnh thổ đầu tiên của Anh Quốc được gọi là Các khu định cư Eo biển. Các lãnh thổ tại Malaysia bán đảo được hợp nhất thành Liên hiệp Malaya vào năm 1946. Malaya được tái cấu trúc thành Liên bang Malaya vào năm 1948 và giành được độc lập vào ngày 31 tháng 8 năm 1957. Malaya hợp nhất với Bắc Borneo, Sarawak, và Singapore vào ngày 16 tháng 9 năm 1963, với từ si được thêm vào quốc hiệu mới là Malaysia. Đến năm 1965, Singapore bị trục xuất khỏi liên bang.

Malaysia là một quốc gia đa dân tộc và văn hóa, đặc điểm này đóng một vai trò lớn trong hệ thống chính trị quốc gia. Hiến pháp tuyên bố Hồi giáo là quốc giáo trong khi vẫn bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Hệ thống chính quyền của Malaysia có mô hình gần với hệ thống nghị viện Westminster và hệ thống pháp luật dựa trên thông luật của Anh Quốc. Nguyên thủ quốc gia cao nhất là Quốc vương, còn được gọi là Yang di-Pertuan Agong. Người này là một quân chủ tuyển cử, được chọn từ các quân chủ kế tập của chín bang Mã Lai theo chế độ quân chủ, thay đổi sau mỗi 5 năm. Người đứng đầu chính phủ liên bang là thủ tướng.

Kể từ sau khi giành được độc lập, Malaysia đã trở thành một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanhbền vững nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng liên tục, trung bình ở mức 6,5% trong gần 50 năm liên tiếp, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao. Về truyền thống, yếu tố thúc đẩy cho kinh tế Malaysia là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, song, quốc gia này hiện cũng đang rất phát triển trong các lĩnh vực công nghiệp nặng, khoa học ứng dụng, du lịch, thương mạiy tế. Ngày nay, Malaysia sở hữu một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới tiệm cận mức phát triển, duy trì, giữ vững quy mô GDP danh nghĩa lớn thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á sau Thái LanIndonesia qua nhiều năm. Malaysia là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Hội nghị cấp cao ASEAN - Đông Á, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, Liên Hợp Quốc, WTO, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Khối Thịnh vượng chung các quốc giaPhong trào không liên kết.

Từ nguyên

 
"Malaysia" được sử dụng làm nhãn cho Quần đảo Mã Lai trên bản đồ năm 1914 từ tập bản đồ Hoa Kỳ

Tên "Malaysia" là sự kết hợp của từ "Malay" và hậu tố Latinh-Hy Lạp "-sia"[9][10] "Malay" là một từ ngữ quốc gia chỉ người Mã Lai, một nhóm sắc tộc Nam Đảo và một quốc gia có nguồn gốc từ Đông Nam Á hải đảo. Nguồn gốc của từ "Malay" là không chắc chắn và tuân theo các lý thuyết khác nhau. Văn học sử thi bản địa, Biên niên sử Mã Lai, liên kết nguồn gốc từ nguyên của "Malay" với Sungai Melayu trong Sumatra. Thuật ngữ này được cho là bắt nguồn từ từ tiếng Mã Lai melaju, sự kết hợp của lời nói tiền tố "tôi" và từ gốc laju, có nghĩa là "tăng tốc", được sử dụng để mô tả dòng chảy mạnh của dòng sông.[11] Một lý thuyết khác khẳng định nguồn gốc của nó từ tiếng Tamil các từ "malai" và "ur" có nghĩa là "núi" và "thành phố, đất", tương ứng.[12][13][14] được tìm thấy trong bản khắc của thế kỷ 11 của Đền Brihadeeswarar.[15]

Tuy nhiên, các biến thể âm thanh tương tự cũng đã xuất hiện trong các tài khoản cũ hơn thế kỷ 11, thường được sử dụng như là từ đồng nghĩa cũ với các phần của Eo biển Malacca.[15] Văn bản tiếng Phạn Vayu Purana được cho là tồn tại từ thiên niên kỷ thứ nhất TCN, đã đề cập đến một vùng đất gọi là "Malayadvipa" được một số học giả xác định là bán đảo Mã Lai.[16][17][18][19][20] Các loại cắt nghĩa đáng chú ý khác là vào thế kỷ thứ 2 Geographia của Ptolemy đã ghi lại tên Maleu-Kolon cho bờ biển phía tây của Golden Chersonese, và thế kỷ thứ 7 Yijing cắt nghĩa của Mo-Lo-Yu.[15] Thuật ngữ "Malay" được cho là đã phát triển thành dân tộc với sự ra đời của Vương quốc Malacca, có trụ sở tại bán đảo Mã Lai, như một cường quốc khu vực trong thế kỷ 15. Hồi giáo đã thiết lập một bản sắc dân tộc ở Malacca với thuật ngữ "Malay" sau đó, bắt đầu xuất hiện như có thể hoán đổi với người Malacca, đặc biệt là trong việc mô tả sở thích văn hóa của người Malacca đối với người nước ngoài.[15]

Trước khi thực dân châu Âu đặt chân đến, bán đảo Mã Lai được biết đến như là "Tanah Melayu" ("Vùng đất Mã Lai").[21][22] Theo phân loại chủng tộc được tạo ra bởi một học giả người Đức Johann Friedrich Blumenbach, người bản địa của Đông Nam Á hải đảo đã được nhóm thành một loại duy nhất, chủng tộc Mã Lai.[23][24] Sau cuộc thám hiểm của hoa tiêu Pháp Jules Dumont d'Urville đến Châu Đại Dương vào năm 1826, sau đó ông đã đề xuất sự giao thiệp của "Malaysia", "Micronesia" và "Melanesia" cho Société de Géographie vào năm 1831, phân biệt các nền văn hóa Thái Bình Dương và các nhóm đảo với thuật ngữ hiện có "Polynesia". Dumont d'Urville mô tả Malaysia là "một khu vực thường được gọi là Đông Ấn".[25] Theo thuật ngữ hiện đại, "Malay" vẫn là tên của một sắc tộc tôn giáo của người Nam Đảo chủ yếu sinh sống trên Bán đảo Mã Lai và một phần của các đảo lân cận Đông Nam Á, bao gồm cả bờ biển phía đông Sumatra, bờ biển của Borneo và những hòn đảo nhỏ hơn nằm giữa những khu vực này.[26]

Malaysia giành được độc lập từ Vương quốc Anh vào năm 1957 đã lấy tên là "Liên bang Mã Lai", được chọn để ưu tiên cho các tên tiềm năng khác như "Langkasuka", theo tên của vương quốc lịch sử nằm ở phía trên phần bán đảo Mã Lai trong thiên niên kỷ thứ nhất TCN.[27][28] Tên "Malaysia" được thông qua vào năm 1963 khi các bang hiện có của Liên bang Mã Lai, cộng với Singapore, Bắc Borneo và Sarawak thành lập một liên bang mới.[29] Một giả thuyết đặt ra cái tên đã được chọn sao cho "si" đại diện cho sự bao gồm Singapore, Bắc Borneo và Sarawak đến Mã Lai vào năm 1963[29] Các chính trị gia ở Philippines dự tính đổi tên nhà nước thành "Malaysia" trước khi đất nước hiện đại lấy tên.[30]

Lịch sử

Có bằng chứng về việc người hiện đại cư trú tại Malaysia cách nay 40.000 năm.[31] Tại bán đảo Mã Lai, các cư dân đầu tiên được cho là người Negrito.[32] Các thương nhân và người định cư từ Ấn Độ và Trung Quốc đến từ thế kỷ I CN, lập nên các thương cảng và đô thị duyên hải vào thế kỷ II và III. Sự xuất hiện của họ khiến ảnh hưởng của Ấn Độ và Trung Quốc có tác động mạnh đối các văn hóa bản địa, và người dân trên bán đảo Mã Lai tiếp nhận Ấn Độ giáoPhật giáo. Các bản khắc bằng tiếng Phạn xuất hiện từ thế kỷ IV hoặc V.[33] Vương quốc Langkasuka nổi lên vào khoảng thế kỷ II ở khu vực bắc bộ của bán đảo Mã Lai, tồn tại cho đến khoảng thế kỷ XV.[27] Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, phần lớn nam bộ bán đảo Mã Lai là một phần của đế quốc hàng hải Srivijaya. Sau khi Srivijaya sụp đổ, đế quốc Majapahit có ảnh hưởng đối với hầu hết Malaysia bán đảo và quần đảo Mã Lai.[34] Hồi giáo bắt đầu truyền bá trong cộng đồng người Mã Lai vào thế kỷ XIV.[35] Vào đầu thế kỷ XV, một hậu duệ của hoàng thất Srivijaya là Parameswara thành lập Vương quốc Malacca, đây thường được xem là quốc gia độc lập đầu tiên tại bán đảo Mã Lai.[36] Đương thời, Malacca là một trung tâm thương mại quan trọng.

 
Người Bồ Đào Nha xây dựng pháo đài A Famosa tại Malacca vào thế kỷ XVI.

Năm 1511, Bồ Đào Nha chinh phục Malacca,[35] đến năm 1641 thì lãnh thổ này bị người Hà Lan chiếm đoạt. Năm 1786, Đế quốc Anh thiết lập một sự hiện diện tại Malaya, khi đó Sultan của Kedah cho Công ty Đông Ấn Anh thuê Penang. Người Anh giành được Singapore vào năm 1819,[37] và đến năm 1824 thì đoạt quyền kiểm soát Malacca sau Hiệp định Anh-Hà Lan. Năm 1826, người Anh bắt đầu quản lý trực tiếp Penang, Malacca, Singapore, và đảo Labuan. Đến thế kỷ XX, tại các quốc gia Pahang, Selangor, Perak, và Negeri Sembilan, được gọi chung là Các quốc gia Mã Lai liên minh, có các thống sứ người Anh được bổ nhiệm để cố vấn cho các quân chủ Mã Lai theo điều khoản trong các hiệp định mà họ từng ký.[38] Năm quốc gia còn lại trên bán đảo được gọi là Các quốc gia Mã Lai phi liên minh, các quốc gia này không chịu sự quản lý trực tiếp của người Anh, song cũng chấp thuận các cố vấn người Anh. Tiến triển tại Bán đảo và Borneo nhìn chung là tách biệt cho đến thế kỷ XIX. Trong thời gian người Anh cai trị, họ khuyến khích người Hoa và người Ấn nhập cư để trở thành lao công.[39] Khu vực mà nay là Sabah nằm dưới sự cai trị của người Anh với tên gọi Bắc Borneo khi cả Sultan của Brunei và Sultan của Sulu chuyển giao quyền sở hữu các lãnh thổ của riêng họ từ năm 1877 đến năm 1878.[40] Năm 1842, Sultan của Brunei nhượng Sarawak cho James Brooke, các Rajah da trắng kế tập cai trị Vương quốc Sarawak độc lập cho đến khi lãnh thổ này trở thành một thuộc địa vương thất Anh vào năm 1946.[41]

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản tấn công, đánh bại quân Anh và chiếm đóng Malaya, Bắc Borneo, Sarawak, và Singapore trong ba năm. Trong thời kỳ này, căng thẳng sắc tộc gia tăng và chủ nghĩa dân tộc phát triển.[42] Sự ủng hộ của dân chúng đối với độc lập tăng lên sau khi lực lượng Đồng Minh tái chiếm Malaya.[43]

Hậu chiến, người Anh tiến hành các nỗ lực nhằm hợp nhất việc cai quản Malaya trong một thuộc địa vương thất duy nhất gọi là Liên hiệp Malaya (Malayan Union), tuy nhiên điều này bị người Mã Lai phản đối mạnh, người Mã Lai phản đối việc địa vị của các quân chủ Mã Lai suy yếu và việc trao quyền công dân cho người gốc Hoa. Liên hiệp Malaya được thành lập vào năm 1946 và bao gồm toàn bộ các thuộc địa của Anh Quốc tại khu vực bán đảo Mã Lai, ngoại trừ Singapore, song chính thể này nhanh chóng bị giải thể và thay thế bởi Liên bang Malaya (Federation of Malaya), chính thể này khôi phục quyền tự trị cho các quân chủ của các quốc gia Mã Lai dưới sự bảo hộ của người Anh.[44] Trong thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Malaya, quân nổi dậy mà hầu hết là người gốc Hoa tiến hành các hoạt động du kích với mục đích đánh đuổi người Anh ra khỏi Malaya. Tình trạng khẩn cấp Malaya kéo dài từ năm 1948 đến năm 1960, và liên quan đến một chiến dịch chống nổi loạn kéo dài của quân Thịnh vương chung tại Malaya.[45] Sau đó, người ta đưa ra một kế hoạch nhằm Liên hiệp Malaya với các thuộc địa vương thất Bắc Borneo (gia nhập với tên Sabah), Sarawak, và Singapore. Ngày đề xuất hợp thành liên bang là 31 tháng 8 năm 1963, tuy nhiên, thời điểm bị trì hoãn cho đến ngày 16 tháng 9 năm 1963 do phản đối của Indonesia dưới quyền Tổng thống Sukarno và Đảng Nhân dân Liên hiệp Sarawak.[46]

Sự thành lập liên bang khiến các căng thẳng tăng cao, bao gồm một cuộc xung đột với Indonesia, Singapore bị trục xuất vào năm 1965,[47][48] và xung đột sắc tộc. Xung đột sắc tộc lên đến đỉnh điểm trong các cuộc bạo loạn sắc tộc ngày 13 tháng 5 năm 1969.[49] Sau các cuộc bạo loạn, Thủ tướng Tun Abdul Razak đưa ra Chính sách Kinh tế mới gây tranh cãi, mục đích là nhằm nâng cao phần sở hữu kinh tế của bumiputera.[50] Dưới thời Thủ tướng Mahathir Mohamad, Malaysia trải qua tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh chóng. Kinh tế Malaysia chuyển đổi từ dựa vào nông nghiệp sang dựa vào chế tạo và công nghiệp. Nhiều siêu dự án được hoàn thành, chẳng hạn như tháp đôi Petronas, xa lộ Nam-Bắc, hành lang đa phương tiện siêu cấp, và thủ đô hành chính liên bang mới Putrajaya.[29]

Phân cấp hành chính

Malaysia là một liên bang gồm 13 bang và ba lãnh thổ liên bang. Chúng được phân thành hai khu vực, 11 bang và hai lãnh thổ liên bang nằm tại Malaysia bán đảo; hai bang và một lãnh thổ liên bang nằm ở Đông Malaysia. Quyền cai quản các bang được phân chia giữa chính phủ liên bang và bang, trong khi chính phủ liên bang quản lý trực tiếp đối với các lãnh thổ liên bang.[51]

13 bang của Malaysia dựa trên nền tảng các vương quốc Mã Lai lịch sử, 9 trong số 11 bang Bán đảo vẫn duy trì các gia tộc vương thất của mình, và được gọi là các bang Mã Lai. Quốc vương được tuyển cử từ chín quân chủ với nhiệm kỳ 5 năm.[35] Mỗi bang có một cơ quan lập pháp đơn viện được gọi là Hội đồng lập pháp bang. Mỗi bang được chia tiếp thành các huyện, rồi lại được chia thành mukim. Tại SabahSarawak các huyện được nhóm thành tỉnh.[52] Sabah và Sarawak có quyền tự chủ nhiều hơn đáng kể so với các bang khác, đáng chú ý nhất là chính sách và kiểm soát nhập cư riêng.[53]

Chính phủ và chính trị

Malaysia là một quốc gia quân chủ tuyển cử lập hiến liên bang. Hệ thống chính phủ theo mô hình gần với hệ thống nghị viện Westminster, một di sản của chế độ thuộc địa Anh.[54] Nguyên thủ quốc gia là Yang di-Pertuan Agong, thường được gọi là Quốc vương. Quốc vương được bầu theo mỗi nhiệm kỳ 5 năm từ chín quân chủ kế tập của các bang Mã Lai; bốn bang còn lại có nguyên thủ trên danh nghĩa song không tham gia vào việc tuyển lựa. Theo thỏa thuận không chính thức, vị trí Quốc vương sẽ do quân chủ chín bang luân phiên nắm giữ,[54] Vai trò của Quốc vương phần lớn mang tính lễ nghi kể từ sau các thay đổi trong hiến pháp vào năm 1994.[55]

Quyền lập pháp được phân chia giữa các cơ quan lập pháp liên bang và bang. Nghị viện liên bang của Malaysia bao gồm hạ viện và thượng viện.[56] Hạ viện gồm có 222 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ tối đa là 5 năm từ các khu vực bầu cử một ghế. Toàn bộ 70 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm; 26 người được 13 quốc hội bang tuyển chọn, 44 người được Quốc vương bổ nhiệm theo tiến cử của Thủ tướng.[35] Nghị viện Malaysia theo một hệ thống đa đảng và chính phủ được bầu thông qua một hệ thống đa số chế. Kể từ khi độc lập, cầm quyền tại Malaysia là một liên minh đa đảng được gọi là Barisan Nasional.[35]

 
Tòa nhà Perdana Putra tại Putrajaya, tổ hợp văn phòng của Thủ tướng Malaysia.

Mỗi bang có một quốc hội đơn viện, các nghị viên được bầu từ các đơn vị bầu cử một ghế. Người đứng đầu các chính phủ bang là các thủ hiến (Chief Minister),[35] họ là những thành viên quốc hội và đến từ đảng chiếm đa số trong quốc hội. Tại các bang có quân chủ kế tập, thủ hiến theo thường lệ cần phải là người Mã Lai, do quân chủ bổ nhiệm theo tiến cử của thủ tướng.[57] Các cuộc bầu cử nghị viện được tổ chức 5 năm một lần.[35] Các cử tri đăng ký 21 tuổi hoặc lớn hơn có thể bỏ phiếu để bầu các thành viên của Hạ viện, và bầu các thành viên quốc hội bang ở hầu hết các bang. Bầu cử không bắt buộc.[58] Ngoại trừ Sarawak, cuộc bầu cử cấp bang tại các khu vực còn lại diễn ra đồng thời với bầu cử liên bang.[55]

Quyền hành pháp được trao cho Nội các do thủ tướng lãnh đạo. Thủ tướng phải là thành viên của hạ viện, được Quốc vương chuẩn thuận, nhận được đa số ủng hộ tại nghị viện. Nội các được lựa chọn từ lưỡng viện quốc hội liên bang.[35] Thủ tướng là người đứng đầu nội các và cũng là người đứng đầu chính phủ.[55]

Hệ thống pháp luật Malaysia dựa trên thông luật Anh.[35] Mặc dù cơ quan tư pháp độc lập về lý thuyết, song sự độc lập của chúng bị đặt dấu hỏi và việc bổ nhiệm các thẩm phán thiếu trách nhiệm giải trình và tính minh bạch.[59] Tòa án tối cao trong hệ thống tư pháp là Tòa án Liên bang, sau đó là Tòa thượng tố và hai Tòa cao đẳng, một cho Malaysia bán đảo và một cho Đông Malaysia. Malaysia cũng có một tòa án đặc biệt để xét xử các vụ án do Quốc vương đưa ra hoặc chống lại Quốc vương.[60] Các tòa án Syariah tách biệt với các tòa án dân sự, các tòa này áp dụng luật Sharia trong các vụ án liên quan đến người Hồi giáo Malaysia[61] và vận hành song song với hệ thống tòa án thế tục.[62] Đạo luật An ninh Nội địa cho phép giam giữ không cần xét xử, và án tử hình được áp dụng cho các tội như buôn bán ma túy.[63]

Sắc tộc có ảnh hưởng lớn trong chính trị Malaysia, nhiều chính đảng dựa trên nền tảng dân tộc.[35] Các hành động quả quyết như Chính sách Kinh tế mới[50] và thay thế nó là Chính sách Phát triển Quốc gia, được thực hiện nhằm thúc đẩy địa vị của bumiputera, bao gồm người Mã Lai và các bộ lạc bản địa, trước những người phi bumiputera như người Malaysia gốc Hoa và người Malaysia gốc Ấn.[64] Các chính sách này quy định ưu đãi cho bumiputera trong việc làm, giáo dục, học bổng, kinh doanh, tiếp cận nhà giá rẻ hơn và hỗ trợ tiết kiệm. Tuy nhiên, nó gây ra oán giận rất lớn giữa các dân tộc.[65]

Quan hệ đối ngoại và quân sự

Malaysia là một thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)[66] Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC),[67] và cũng tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc,[68] Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương,[69] và Phong trào không liên kết (NAM).[70] Malaysia từng giữ chức chủ tịch ASEAN, OIC, và NAM.[35] Do là một cựu thuộc địa của Anh Quốc, Malaysia cũng là một thành viên của Thịnh vượng chung các quốc gia.[71] Kuala Lumpur là địa điểm diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào năm 2005.[72]

 
Vệ binh vương thất ngoài cổng chính cung Istana Negara tại Kuala Lumpur.

Chính sách ngoại giao của Malaysia về chính thức là dựa trên nguyên tắc trung lập và duy trì các quan hệ hòa bình với tất cả các quốc gia, bất kể hệ thống chính trị của quốc gia đó.[73] Chính phủ đặt ưu tiên cao đối với an ninh và ổn định của Đông Nam Á,[72] và cố gắng phát triển hơn nữa mối quan hệ với các quốc gia khác trong khu vực. Về phương diện lịch sử, chính phủ cố gắng khắc họa Malaysia là một quốc gia Hồi giáo tiến bộ[73] trong khi tăng cường quan hệ với các quốc gia Hồi giáo khác.[72] Trong chính sách của Malaysia, có một nguyên lý kiên định là chủ quyền quốc gia và quyền của một quốc gia trong việc kiểm soát các công việc nội bộ.[55]

Chính phủ Malaysia theo chủ nghĩa thực dụng trong chính sách đối với các tranh chấp lãnh thổ, giải quyết các tranh chấp theo một số phương pháp, chẳng hạn như đưa vụ việc ra Tòa án Công lý Quốc tế.[74] Nhiều quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Brunei và Malaysia vào năm 2008 tuyên bố kết thúc tuyên bố chủ quyền đối với các vùng đất của nhau, và giải quyết các vấn đề liên quan đến biên giới trên biển. Philippines có tuyên bố chủ quyền không thi hành đối với Sabah. Hoạt động cải tạo đất của Singapore gây ra căng thẳng giữa hai bên, và Malaysia cũng có tranh chấp biên giới trên biển với Indonesia.[75]

Malaysia chưa từng công nhận Israel và không có quan hệ ngoại giao với quốc gia này.[76] Malaysia ủng hộ mạnh mẽ Nhà nước Palestine.[77] Lực lượng gìn giữ hòa bình của Malaysia hiện diện tại Liban[78] và Malaysia đóng góp vào nhiều sứ mệnh gìn giữ hòa bình khác của Liên Hợp Quốc.[35][79]

Lực lượng Vũ trang Malaysia gồm ba nhánh là Hải quân Hoàng gia Malaysia, Lục quân Malaysia, và Không quân Hoàng gia Malaysia. Malaysia không thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự, độ tuổi cần thiết để thực hiện quân sự tự nguyện là 18. Quân đội sử dụng 1,9% GDP của quốc gia, và sử dụng 1,23% nhân lực của Malaysia.[80]

Thỏa thuận phòng thủ năm nước là một sáng kiến an ninh khu vực tồn tại trong gần 40 năm, liên quan đến các cuộc luyện tập quân sự chung được tổ chức giữa Malaysia, Singapore, Australia, New Zealand, và Anh Quốc.[81] Các cuộc tuyện tập quân sự và tập trận chung được tổ chức với Indonesia trong nhiều năm.[82] Malaysia và Philippines chấp thuận tổ chức luyện tập an ninh chung nhằm đảm bảo biên giới hàng hải và giải quyết các vấn đề như nhập cư bất hợp pháp.[83]

Địa lý

Malaysia là quốc gia lớn thứ 67 trên thế giới về diện tích đất liền, với 329.847 km2 (127.355 dặm vuông Anh). Tây Malaysia có biên giới trên bộ với Thái Lan, Đông Malaysia có biên giới trên bộ với Indonesia và Brunei.[84] Malaysia kết nối với Singapore thông qua một đường đắp cao hẹp và một cầu. Malaysia có biên giới trên biển với Việt Nam[85] và Philippines.[86] Biên giới trên bộ được xác định phần lớn dựa trên các đặc điểm địa chất, chẳng hạn như sông Perlis, sông Golok và kênh Pagalayan, trong khi một số biên giới trên biển đang là chủ đề tranh chấp.[84] Brunei hầu như bị Malaysia bao quanh,[87] bang Sarawak của Malaysia chia Brunei thành hai phần. Malaysia là quốc gia duy nhất có lãnh thổ nằm cả trên lục địa châu Á và quần đảo Mã Lai.[88] Điểm cực nam của lục địa châu Á là Tanjung Piai, thuộc bang nam bộ Johor.[89] Eo biển Malacca nằm giữa đảo Sumatra và Malaysia bán đảo, đây là một trong các tuyến đường quan trọng nhất trong thương mại toàn cầu.[90]

 
Bãi biển trên đảo Tioman ở phía đông bán đảo Mã Lai.

Hai phần của Malaysia tách nhau qua biển Đông, tuy nhiên hai phần này có cảnh quan phần lớn là tương tự nhau với các đồng bằng duyên hải rồi cao lên đồi và núi.[84] Malaysia bán đảo chiếm 40% diện tích đất liền của Malaysia,[88] trải dài 740 km (460 mi) từ bắc xuống nam, và có chiều rộng tối đa là 322 km (200 mi).[91] Dãy Titiwangsa phân chia bờ biển đông và tây tại Malaysia bán đảo,[92] dãy núi này là một phần của hàng loạt dãy núi chạy từ phần trung tâm của bán đảo.[88] Các dãy núi này vẫn có rừng bao phủ dày đặc,[93] và có cấu tạo chủ yếu gồm đá hoa cương và các loại đá lửa khác. Nhiều phần trong đó bị xói mòn, tạo thành cảnh quan karst.[88] Dãy núi là đầu nguồn của một số hệ thống sông tại Malaysia bán đảo.[93] Các đồng bằng duyên hải bao quanh bán đảo, có chiều rộng tối đa là 50 kilômét (31 mi), và bờ biển của phần bán đảo dài 1.931 km (1.200 mi), song các bến cảng chỉ có ở bờ phía tây.[91]

Đông Malaysia nằm trên đảo Borneo, có bờ biển dài 2.607 km (1.620 mi).[84] Khu vực này bao gồm các miền ven biển, đồi và thung lũng, và nội lục đồi núi.[88] Dãy Crocker trải dài về phía bắc từ Sarawak,[88] phân chia bang Sabah. Trên dãy này có núi Kinabalu với cao độ 4.095,2 m (13.436 ft),[94] là núi cao nhất Malaysia. Núi Kinabalu được bảo vệ trong khuôn khổ Vườn quốc gia Kinabalu- một di sản thế giới của UNESCO.[95] Các dãy núi cao nhất tạo thành biên giới giữa Malaysia và Indonesia. quần thể hang Mulu tại Sarawak nằm trong số các hệ thống hang lớn nhất trên thế giới.[88]

Xung quanh hai phần của Malaysia là một số hòn đảo, lớn nhất trong số đó là đảo Banggi.[96] Malaysia có khí hậu xích đạo, điểm đặc trưng là gió mùa tây nam (tháng 4 đến tháng 10) và gió mùa đông bắc (tháng 10 đến tháng 2).[91] Các vùng biển xung quanh giúp điều hòa nhiệt độ cho Malaysia.[88] Ẩm độ thường cao, và lượng mưa trung bình hàng năm là 250 cm (98 in).[91] Khí hậu tại Bán đảo và Đông bộ khác biệt, thời tiết Bán đảo chịu ảnh hưởng trực tiếp từ gió thổi từ lục địa, trong khi Đông bộ có khí hậu mang tính hải dương hơn. Các khí hậu địa phương có thể phân thành: vùng cao, vùng thấp và vùng duyên hải. Biến đổi khí hậu có thể tác động đến mực nước biển và lượng mưa, tăng nguy cơ lũ lụt và dẫn đến hạn hán.[88]

Đa dạng sinh học

Malaysia ký kết Công ước đa dạng sinh vật học Rio vào ngày 12 tháng 6 năm 1993, và trở thành một bên của công ước vào ngày 24 tháng 6 năm 1994.[97] Sau đó, Malaysia đưa ra một kế hoạch chiến lược và hành động đa dạng sinh vật quốc gia, được công ước công nhận vào ngày 16 tháng 4 năm 1998.[98] Malaysia là một quốc gia đa dạng sinh vật siêu cấp với một lượng lớn các loài và có mức độ loài đặc hữu cao.[99] Theo ước tính, Malaysia có 20% số loài động vật trên thế giới.[100] Mức độ loài đặc hữu cao được phát hiện tại các khu rừng đa dạng ở vùng núi Borneo, các loài tại đây bị cô lập với các loài khác ở các khu rừng đất thấp.[88]

Kinh tế

 
tháp đôi Petronas tại Kuala Lumpur là trụ sở của công ty dầu quốc gia Petronas, cũng là tháp đôi cao nhất trên thế giới.

Malaysia là một nền kinh tế thị trường định hướng nhà nước tương đối mở và công nghiệp hóa mới.[101][102] Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong hướng dẫn hoạt động kinh tế thông qua các dự án kinh tế vĩ mô, song vai trò này đang giảm xuống. Malaysia sở hữu một trong những hồ sơ kinh tế tốt nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm trong giai đoạn từ 1957 đến 2005.[35] Năm 2019, GDP của Malaysia là khoảng 365 tỷ đô la Mỹ, là nền kinh tế lớn thứ ba trong ASEAN, lớn thứ 11 châu Á và lớn thứ 33 trên thế giới.[103] Năm 1991, Thủ tướng Malaysia đương thời là Mahathir Mohamad phác thảo ý tưởng của ông trong "Tầm nhìn 2020", theo đó Malaysia sẽ trở thành một quốc gia công nghiệp hóa tự túc vào năm 2020.[104] Thủ tướng thứ sáu là Najib Razak nói rằng Malaysia sẽ đạt đến tình trạng nước phát triển vào năm 2018, sớm hơn so với mục tiêu vào năm 2020, ông đưa vào thực hiện hai chương trình là Chương trình chuyển đổi chính phủ và Chương trình chuyển đổi kinh tế.[105]

Trong thập niên 1970, nền kinh tế dựa chủ yếu vào khai mỏ và nông nghiệp của Malaysia bắt đầu chuyển đổi hướng đến một nền kinh tế đa lĩnh vực hơn. Từ thập niên 1980, lĩnh vực công nghiệp, với đầu tư ở mức cao, dẫn dắt tăng trưởng của quốc gia.[35][106] Sau Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, kinh tế Malaysia phục hồi sớm hơn các quốc gia láng giềng, và kể từ đó phục hồi mức của thời kỳ tiền khủng hoảng với GDP bình quân đầu người là 14.800 đô la.[107][108] Bất bình đẳng kinh tế tồn tại giữa các dân tộc khác nhau, người Hoa chiếm khoảng một phần ba dân số song lại chiếm 70% giá trị vốn hóa thị trường của quốc gia.[109]

 
Malaysia là một trong những quốc gia sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới

Thương mại quốc tế của Malaysia có thuận lợi do nằm sát tuyến đường tàu thủy qua eo biển Malacca, và chế tạo là lĩnh vực then chốt.[110][111][112] Malaysia là một nước xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản, dầu mỏ là mặt hàng xuất khẩu chính.[35] Malaysia từng là nhà sản xuất lớn nhất các mặt hàng thiếc,[113] cao sudầu cọ trên thế giới. Lĩnh vực chế tạo có ảnh hưởng lớn trong kinh tế quốc gia,[114] song cấu trúc kinh tế của Malaysia đang chuyển ra khỏi tình trạng này.[115] Malaysia vẫn là một trong các nhà sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới.[116]

Chính phủ thúc đẩy sự gia tăng du lịch đến Malaysia trong một nỗ lực nhằm đa dạng hóa kinh tế và giảm sự phụ thuộc vào hàng xuất khẩu. Kết quả là du lịch trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn thứ ba của Malaysia, song nó đang bị đe dọa do những tác động tiêu cực từ ngành công nghiệp đang phát triển, với một lượng lớn khí thải và nước thải cùng với nạn phá rừng.[117] Từ năm 2013-2014, Malaysia được xếp là một trong những nơi tốt nhất để nghỉ hưu trên thế giới, đứng vị trí thứ 3 theo Chỉ số hưu trí toàn cầu. Đây là một trong những kết quả của chương trình "Malaysia My Second Home", theo đó người ngoại quốc được phép sống tại Malaysia theo một thị thực trường trú lâu đến 10 năm.[118]

Malaysia phát triển thành một trung tâm của ngân hàng Hồi giáo, và là quốc gia có số nữ lao động cao nhất trong ngành này.[119] Các ngành dịch vụ dựa trên tri thức cũng phát triển.[115] Để tạo ra khả năng phòng thủ tự lực và hỗ trợ phát triển quốc gia, Malaysia tiến hành tư hữu hóa một số cơ sở quân sự của mình trong thập niên 1970. Hành động tư hữu hóa tạo ra ngành công nghiệp quốc phòng, đến năm 1999 thì nằm dưới sự quản lý của Hội đồng công nghiệp quốc phòng Malaysia. Chính phủ tiếp tục thúc đẩy lĩnh vực này và tính cạnh tranh của nó, tích cực tiếp thị công nghiệp quốc phòng.[120]

Bộ Khoa học, Công nghệ và Cách tân quy định các chính sách khoa học tại Malaysia. Malaysia nằm trong số các nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới về thiết bị bán dẫn, thiết bị điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông.[35]Malaysia bắt đầu phát triển chương trình không gian một cách riêng rẽ vào năm 2002,[121][122] và đến năm 2006, Nga đồng ý vận chuyển một người Malaysia lên Trạm vũ trụ Quốc tế như là một phần trong thương vụ 18 chiến đấu cơ Sukhoi Su-30MKM trị giá nhiều tỷ đô la giữa hai bên.[123] Chính phủ Malaysia đầu tư kiến thiết các vệ tinh thông qua chương trình RazakSAT.[124]

Người Malaysia gốc Hoa là thế lực nắm huyết mạch kinh tế của Malaysia, vì vậy địa vị và quyền lợi của người Malaysia gốc Hoa rất lớn trên chính trường cũng như trong kinh doanh, giáo dục[125]. Thống kê năm 2000 cho thấy người Malaysia gốc Hoa sở hữu hơn 62% cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Malaysia, mặc dù người Malaysia gốc Hoa chiếm chưa đầy 1/4 dân số[126]. Năm 2010, người Malaysia gốc Hoa chi phối trong các lĩnh vực thương nghiệp và mậu dịch, kiếm soát xấp xỉ 70% kinh tế Malaysia.[127]

Cơ sở hạ tầng

Malaysia có cơ sở hạ tầng thuộc hàng phát triển nhất tại châu Á.[128] Hệ thống viễn thông chỉ đứng sau Singapore tại Đông Nam Á, với 4,7 triệu thuê bao điện thoại cố định và tr