Wikipedia

Hàn Quốc

Quốc gia có chủ quyền thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên

Hàn Quốc (Tiếng Triều Tiên한국韓國Hanguk), tên chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (Tiếng Triều Tiên대한민국大韓民國Daehan Minguk; tiếng Anh: Republic of Korea, Korea Republic), hay còn được gọi bằng các tên gọi khác như là Đại Hàn, Nam Hàn, Nam Triều Tiên hoặc Cộng hòa Triều Tiên, là một quốc gia có chủ quyền thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía nam của Bán đảo Triều Tiên. Phía bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, phía đông tiếp giáp với biển Nhật Bảnphía tâybiển Hoàng Hải. Thủ đô của Hàn Quốc là thành phố Seoul, trung tâm đô thị lớn thứ tư trên thế giới với dân số ước tính đạt tới hơn 30 triệu người và là một thành phố toàn cầu quan trọng.[5] Hàn Quốc có khí hậu ôn đớiđịa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100.363 km². Với dân số vào khoảng hơn 50 triệu người, Hàn Quốc là quốc giamật độ dân số cao thứ 3 (chỉ xếp sau BangladeshĐài Loan) trong số các quốc giadiện tích đáng kể trên thế giới.[6]

Đại Hàn Dân Quốc
Seal of South Korea.svg
대한민국의 국장 (Triều Tiên)

Tiêu ngữ
"弘益人間" (de facto)
Hoằng Ích Nhân Gian
"Cống hiến hạnh phúc cho nhân loại"
[1]

Quốc ca
"愛國歌"
(de facto)
"Ái quốc ca"

Quốc kỳ caArirang
"아리랑" (de facto)
"A Lý Lang"
Tổng quan
Vị trí của Hàn Quốc (xanh đậm) trên thế giới. Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền đối với lãnh thổ Bắc Triều Tiên, nhưng không kiểm soát. (xanh nhạt)
Vị trí của Hàn Quốc (xanh đậm) trên thế giới.
Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền đối với
lãnh thổ Bắc Triều Tiên, nhưng không kiểm soát.
(xanh nhạt)
South Korea - Location Map (2013) - KOR - UNOCHA.svg
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Seoul
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Hàn Quốc (Pyojun-eo)
Ngôn ngữ ký hiệu Hàn Quốc
Văn tự chính thứcHangul
Sắc tộc
Không có số liệu thống kê chính thức
Tôn giáo chính
Tên dân tộc
Chính trị
Chính phủNhất thể tổng thống chế cộng hòa lập hiến
Moon Jae-in
Chung Sye-kyun
Moon Hee-sang
Kim Myeong-soo
Yoo Nam-seok
Lập phápQuốc hội Hàn Quốc
Lịch sử
Thành lập
• Thành lập Cổ Triều Tiên
2333 TCN
• Tuyên bố độc lập
1 tháng 3 năm 1919
13 tháng 4 năm 1919
15 tháng 8 năm 1945
17 tháng 7 năm 1948
• Tuyên bố Chính phủ
15 tháng 8 năm 1948
Địa lý
Diện tích
• Tổng cộng
100.363 km2 (hạng 108)
38,750 mi2
• Mặt nước (%)
0,3(301 km2 / 116 mi2)
Dân số
• Ước lượng 2019
51.709.098 (hạng 23)
507/km2 (hạng 23)
1,313/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2019
• Tổng số
2.320 nghìn tỷ USD (hạng 14)
44,740 USD (hạng 29)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2019
• Tổng số
1.720 nghìn tỷ USD (hạng 11)
• Bình quân đầu người
31,430 USD (hạng 27)
Đơn vị tiền tệWon (₩) / won 대한민국 원 (KRW)
Thông tin khác
Gini? (2016)35,7
trung bình
HDI? (2018)0,906
rất cao · hạng 22
Múi giờUTC+09:00 (Giờ chuẩn Hàn Quốc)
• Mùa hè (DST)
UTC+09:00 (không áp dụng)
Cách ghi ngày tháng
  • yyyy-mm-dd (năm-tháng-ngày)
Giao thông bênPhải
Mã điện thoại+82
Mã ISO 3166KR
Tên miền Internet.kr, .한국
Trang web
www.korea.net
Hàn Quốc
South Korea (Hangul and Hanja).svg
"Hàn Quốc" trong văn tự Hangul (trên) và Hanja (dưới).
Hangul한국
Hanja韓國
Romaja quốc ngữHan(-)guk
McCune–ReischauerHan’guk
Đại Hàn Dân Quốc
Hangul대한민국
Hanja大韓民國
Romaja quốc ngữDaehan Min(-)guk
McCune–ReischauerTaehan Min’guk

Những chứng cứ khảo cổ học cho thấy bán đảo Triều Tiên đã có con người sinh sống từ Thời đại đồ đá cũ.[7][8] Lịch sử Triều Tiên bắt đầu từ khi nhà nước Cổ Triều Tiên được thành lập vào năm 2333 TCN bởi Đàn Quân. Sau thời kỳ Tam Quốc Triều Tiên, Triều Tiên trải qua các triều đại Cao Ly (Goryeo) và triều đại Triều Tiên (Joseon) trong một đất nước thống nhất cho đến cuối thời kỳ của Đế quốc Đại Hàn vào năm 1910, khi đó, toàn bộ bán đảo Triều Tiên đã bị Đế quốc Nhật Bản sử dụng vũ lực để sáp nhập lãnh thổ sau sự kiện Thống sứ Nhật Bản tại Triều TiênItō Hirobumi bị An Jung-geun – một nhà hoạt động cách mạngnền độc lập dân tộc của Triều Tiên ám sát tại nhà ga Cáp Nhĩ Tân vào ngày 26 tháng 10 năm 1909. Sau khi được quân đội Đồng Minh giải phóng và bị chia cắt vào giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc gia này trở thành hai nhà nước với hai hệ tư tưởng và quan điểm chính trị đối lập nhau là Bắc Triều TiênNam Triều Tiên. Nhà nước và chính phủ Đại Hàn Dân Quốc được thành lập trên vùng lãnh thổ của miền Nam sau một cuộc tổng tuyển cử vào năm 1948 do Lý Thừa Vãn đứng đầu, ngay sau đó, đáp lại, miền Bắc cũng tiến hành tổ chức bầu cử, chính phủ và nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ra đời, do Kim Nhật Thành lãnh đạo. Trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng ý thức hệ và được hậu thuẫn từ phía Liên bang Xô viết thì Nam Triều Tiên (tức Đại Hàn Dân Quốc) lại chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ về ý thức hệ và được sự hậu thuẫn, giúp đỡ, viện trợ của Hoa Kỳ, điều này đã dẫn đến những mâu thuẫn dân tộc giữa hai miền Triều Tiên (vốn đã ở trong tình trạng căng thẳng, thù địch suốt nhiều năm liền) - nay ngày càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Những mâu thuẫn này sau đó đã dẫn đến kết cục là một giải pháp quân sự tàn khốc – cuộc chiến tranh Triều Tiên (25 tháng 6 năm 195027 tháng 7 năm 1953), hậu quả làm hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị ảnh hưởng, rất nhiều người dân, binh lính, quân nhân bị thương tật nặng, một số khác thì bị mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn những người thân trong gia đình của mình. Chiến tranh Triều Tiên kết thúc bằng một hiệp định ngừng bắn được ký kết trước sự chứng kiến của đại diện các bên tham chiến tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm thuộc Khu phi quân sự Triều Tiên. Trong các thập niên từ năm 1950 tới 1990, kinh tế Hàn Quốc đã được khôi phục hoàn toàn, phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn, bền vững trên thế giới.[9]

Hàn Quốc hiện là một nước cộng hòa nghị viện và theo hệ thống chính phủ Tổng thống chế, lãnh thổ bao gồm 16 đơn vị hành chính (tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương). Hàn Quốc là một quốc gia phát triểnmức sốngchỉ số phát triển con người thuộc vào loại rất cao, có nền kinh tế phát triển theo phân loại của CIA, Ngân hàng Thế giớiIMF, và đồng thời là một cường quốc khu vực tại Đông Á cũng như là một cường quốc tầm trung trên thế giới. Hàn Quốc hiện đang là nền kinh tế lớn thứ 4châu Á sau nền kinh tế của các quốc gia Trung Quốc, Nhật BảnẤn Độ, xếp thứ 11 trên thế giới theo GDP danh nghĩa, xếp hạng 13 theo sức mua tương đương (tính đến hết năm 2018 theo các số liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Liên Hiệp Quốc, CIANgân hàng Thế giới). Nền kinh tế quốc dân chủ yếu dựa vào xuất khẩu, tập trung vào các ngành mũi nhọn như: công nghiệp nặng, điện tử tiêu dùng, xe hơi, tàu biển, vận tải, máy móc, hóa dầu, robot, viễn thông, dược phẩm, thiết bị quân sự,... Ngoài ra, Hàn Quốc cũng là quốc gia phát triển trong các ngành dịch vụ, du lịchgiải trí. Hàn Quốc là nước thành viên của các tổ chức toàn cầu như: Liên hiệp quốc, WTO, OECD, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), UNESCO, khối APEC, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), UNIDO, IAEA, ITU, UNESCAP, WB, UPU, IMF, ICAO, IEA, InterpolNhóm các nền kinh tế lớn G-20. Quốc gia này cũng đồng thời là thành viên tham gia sáng lập của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Đông Á, Cộng đồng Đông Á, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và là một đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng của Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã tạo ra và liên tục tăng cường mạnh mẽ sự phổ biến văn hóa Hàn Quốc trên phạm vi toàn thế giới đặc biệt là ở khu vực châu Á, hay còn được biết đến với tên gọi Làn sóng Hàn Quốc.[10][11]

Mặc dù là một quốc gia phát triển, tuy nhiên, xã hội Hàn Quốc hiện đại cũng đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề phức tạp, nhức nhối và nan giải như tình trạng lão hóa dân số do tỷ lệ sinh cũng như kết hôn giảm mạnh[12], các định kiến xã hội vẫn còn tồn tại, thất nghiệp, áp lực cuộc sống và nạn tự sát - đặc biệt là trong tầng lớp những người trẻ tuổi và khoảng cách của sự phân hóa giàu nghèo đang ngày một gia tăng[13][14][15].

Tên gọi

Hai tên gọi khác nhau "Đại Hàn" và "Triều Tiên" khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau. Ví dụ như trong tiếng Anh, "Đại Hàn" và "Triều Tiên" đều dịch là "Korea", trong tiếng Pháp đều dịch là "Corée", trong tiếng Nga đều dịch là "Корея" (chuyển tự Latin: Koreya)... vì chúng đều bắt nguồn từ tên gọi của Vương quốc Cao Ly, là quốc gia từng tồn tại trên bán đảo Triều Tiên từ năm 918 đến năm 1392. Thời kỳ này, tên gọi Cao Ly đã được thông qua các thương nhân người Ả-rập mà lan rộng, truyền bá đến các quốc gia phương Tây.

Từ năm 1392, toàn bộ bán đảo Triều Tiên này nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Chosun). Kể từ đó, cái tên "Triều Tiên" được dùng làm quốc hiệu để chỉ chung cho toàn bộ dân tộc sinh sống ở tại trên bán đảo này. Sau khi hai miền đất nước bị chia cắt, vùng lãnh thổ phía bắc tiếp tục kế thừa quốc hiệu này, gọi chính thể của mình là Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên; trong khi đó vùng lãnh thổ phía nam chọn quốc hiệu "Đại Hàn Dân Quốc", kế thừa từ quốc hiệu "Đế quốc Đại Hàn" (Daehan Jegug) - xưng danhlãnh thổ này đã mang trong giai đoạn 1897-1910 (dưới sự đô hộ của Đế quốc Nhật Bản). Trong đó, chữ "Dân quốc" (chữ Hán: 民國) trong Đại Hàn Dân quốc (大韓民國) được vay mượn từ tiếng Trung Quốc, khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì được dịch tương đương như cộng hoà quốc (共和國, nước cộng hoà). Trong tiếng Anh, "Dân quốc" và "Cộng hoà quốc" đều được dịch là "Republic", trong tiếng Pháp đều được dịch là "République", trong tiếng Nga đều được dịch là "республика" (chuyển tự Latin: Respublika).

Tại Việt Nam trước năm 1975, báo chítruyền thông của Việt Nam Cộng hòa thường gọi chính thể này là "Đại Hàn" hoặc "Nam Hàn". Sau năm 1975, những tên gọi cũ trên dần được chuyển dịch qua các ngôn ngữ phương Tây rồi dịch sang tiếng Việt mà trở thành "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên". Bằng công hàm số KEV-398 ngày 23 tháng 3 năm 1994 gửi Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại sứ quán nước này đã đề nghị phía Việt Nam gọi chính thể của mình là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc" (từ "Hàn" ở đây không phải là "Lạnh", đó là ký âm tự của từ "Han" trong tiếng Hàn Quốc, có nghĩa là "Lớn"), không sử dụng các tên gọi cũ như "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên" nữa, vì "Triều Tiên" gợi nhắc đến danh xưng của miền Bắc (tức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên). Đáp lại, Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó đã ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi tất cả các cơ quan bộ, ngành, tổng cục, các cơ quan thông tin, truyền thông, tuyên truyền và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu "Từ nay gọi Nam Triều Tiên là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc", không dùng các tên gọi cũ như Cộng hoà Triều Tiên, Nam Triều Tiên hay Nam Hàn nữa".[16]

Lịch sử

Lịch sử Hàn Quốc trước năm 1945 được trình bày trong phần Lịch sử Triều Tiên. (Xem thêm bài Danh sách Tổng thống Hàn Quốc.)

Khái quát

Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về phía nam. Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết sau đó đã không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.

Vào tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng bầu cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của một Ủy ban Liên hợp quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại 2 miền Triều Tiên đã khước từ việc tuân theo giải pháp này. Hội đồng Liên Hiệp Quốc sau đó đã đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại các địa phương với sự giúp đỡ của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Những cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành riêng rẽ vào ngày 10 tháng 5 năm 1948, tại những tỉnh nằm ở phía nam vĩ tuyến 38. Vĩ tuyến này đã trở thành đường chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai miền nam và bắc Triều Tiên.

Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc và Đại Hàn Dân quốc ở phía nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên.

Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới cuộc Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950, Quân đội Nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc quân đội miền nam đã vượt qua trước, và tấn công – Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hoa KỳLiên Hiệp Quốc hậu thuẫn Đại Hàn Dân Quốc, còn đứng đằng sau Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều TiênLiên XôTrung Quốc. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên Hiệp Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Vùng phi quân sự Triều Tiên phân chia hai nước, và bán đảo Triều Tiên bị chia cắt cho đến ngày nay.

Hơn 3 triệu người đã thiệt mạng hoặc bị thương và hàng chục triệu người khác bị mất nhà cửa hoặc vĩnh viễn chia lìa những người thân trong gia đình trong cuộc chiến tranh tàn khốc này.

Sau đó Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất đất nước bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là có chủ quyền hợp pháp trên toàn bán đảo Triều Tiên và không công nhận chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng này khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đến thập niên 1970 quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai bên Triều Tiên đã chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, cả hai nước được công nhận để chính thức gia nhập Liên hiệp quốc cùng một lúc. Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua chương trình lương thực Thế giới WEP của Liên hiệp quốc.

 
Park Geun-hyecon gái của Tổng thống Park Chung Hee và là nữ Tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc.

Năm 1948, được sự hậu thuẫn từ phía chính phủ Hoa Kỳ, Lý Thừa Vãn - một chính trị gia từng du học tại Mỹ đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ở khu vực phía nam bán đảo Triều Tiên và trở thành vị tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc. Lý Thừa Vãn sau khi lên nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật, chính khách bất đồng chính kiến. Đồng thời, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng lại bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế đất nước phát triển chậm chạp. Chính vì thế nên sang đến năm 1960, Lý Thừa Vãn phải đối mặt với làn sóng bất bình cực lớn của người dân. Cuối cùng, ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang bang Honolulu (Mỹ) và sống tị nạn tại đây cho tới cuối đời. Cho tới nay, dư luận ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.

Chính phủ kế nhiệm của Chang-Myon bị lật đổ sau cuộc đảo chính của tướng Park Chung Hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963, Park Chung Hee chính thức trở thành tổng thống. Park Chung Hee sau đó trở thành nhà độc tài thứ 2 tại Hàn Quốc.

Thông qua hoạt động của “Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia”, Park Chung Hee đã giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung Hee ban hành các sắc lệnh cấm công nhân mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm nhân viên thân chính phủ bên trong các tổ chức công đoàn của công nhân để giám sát và kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Quân đội Hàn Quốc được sử dụng như đạo quân lê dương đánh thuê cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ và do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park Chung Hee.[17]

Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung Hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park Chung Hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia “dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế”. Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó chấm dứt bầu cử trực tiếp và chính thức suy tôn Park Chung Hee làm Tổng thống trọn đời. Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.

Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại Trường Đại học Pusan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Pusan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung Hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở Trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ lực lượng cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung Hee đã bị bắn chết bởi Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc cơ quan tình báo quốc gia Hàn Quốc (NIS). Sau đó Kim Jae-gyu đã bị tử hình nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae Gyu là người có công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.

Thời đại Park Chung Hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung Hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung Hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo Hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung Hee. Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung Hee đã được bình chọn là Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước này (với tỉ lệ bình chọn là 44%).[18]

 
Nghĩa trang Mangwol-dong ở Gwangju, thi thể các nạn nhân của vụ thảm sát Gwangju được chôn cất ở đây.

Năm 1980, Chung Doo-hwan được một hội đồng bầu cử bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Nam Jeolla đã xảy ra vụ nổi dậy Gwangju khi người dân địa phương đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát địa phương để chống lại cảnh sát chính phủ của Chung Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ của sinh viên địa phương. Quân đội Hàn Quốc với cả vũ khí sát thương, vòi rồng, xe tăng, xe bọc thép đã được điều động đến, 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân[19][20].

Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc Thảm sát Gwangju, Chung Doo-Hwan bắt đầu loại bỏ các chính trị gia đối lập khỏi chính trường, và thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Hàn Quốc thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt "Samcheong Education Troops", để tiến hành chương trình “giáo dục thanh lọc”. Khoảng hơn 40 nghìn người đã bị bắt đưa đến các cơ sở của Samcheong Education Troops. Số liệu thống kê về sau cho thấy có khoảng 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người bị chết sau đó. Vào năm 1986, Chung Doo-Hwan ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động, và rất nhiều tổ chức bị đàn áp như Liên minh Dân chủ Thống nhất và Phong trào Nhân dân.

Vào tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn của đã dẫn tới cái chết của Park Jong-Cheol, sinh viên của trường Đại học Quốc gia Seoul. Đầu năm 1987, người dân Hàn Quốc lại bắt đầu nổi dậy sau cái chết của sinh viên họ Park. Họ tổ chức hàng loạt các cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu và tra tấn tàn bạo của chế độ Chung và đồng thời tiếp tục yêu cầu tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Đây cũng chính là sự khởi đầu cho "Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu", từ ngày 26 đến ngày 29, có đến hơn 1,4 triệu người đã tham gia cuộc "Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân", được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to khẩu hiệu “Bãi bỏ hiến pháp xấu xa”“Xóa bỏ chế độ độc tài”. Dưới áp lực ấy, chính quyền Chung Doo-hwan đã buộc phải sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Mặc cho tội ác thảm sát của mình, Chung Doo-hwan vẫn nắm vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới tận năm 1988. Năm 1996, ông bị chính phủ mới kết tội tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát và bị kết án tử hình (sau đó được giảm xuống còn chung thân, tuy vậy ông ta nhanh chóng được Tổng thống Kim Young-Sam ân xá vào ngày 22 tháng 12 năm 1997).

Các cuộc nổi dậy đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào thập niên 1990 với đường lối đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Tới năm 1987 hiến pháp được sửa đổi, theo đó, nhân dân Hàn Quốc lại được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của Hàn Quốc. Thủ đô Seoul của Hàn Quốc đã được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của quốc gia này[21]. Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.

Các đời tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-won (1987) và Kim Young-Sam (1992). Vị tổng thống thứ sáu là Roh Tae-won cũng bị kết án vì tội hối lộ, tham nhũng. Năm 1997, Tổng thống Kim Dae-jung được trao giải Nobel hoà bình vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Vào tháng 6 năm 2000, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi "Chính sách Ánh dương" với Bắc Triều Tiên do Tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Cuối năm đó, ông Kim đã nhận được giải thưởng Nobel Hòa bình do Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao tặng, giải thưởng nhằm vinh danh cho những nỗ lực to lớn, thiết thực của ông vì nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2003 học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm chức Tổng thống Hàn Quốc. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh Moo-hyun cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, và ông Roh tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 bằng cách nhảy xuống từ một mỏm núi khi các cuộc điều tra đang tiếp diễn, do vậy nhiều người nghi ngờ vụ tự sát của ông là do sức ép từ các thế lực khác.

Sau đó là ông Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, ông Lee bị bắt giam do bị tòa án cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ won (tương đương 10,2 triệu USD) của Cơ quan Tình báo nhà nước và các doanh nghiệp Hàn Quốc. Bên cạnh đó, còn là những cáo buộc về tội danh trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ won từ một công ty mà ông Lee Myung-bak bí mật sở hữu.[22] Vào tháng 3.2019, ông Lee được tại ngoại vì những lo ngại về sức khỏe. Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã tuyên án ông Lee Myung-bak 17 năm tù và phạt tiền 13 tỷ won (tương đương 11 triệu USD).[23]

Tiếp đến là Park Geun-hye (con gái của cố Tổng thống - nhà độc tài Park Chung Hee), bà là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại đồng thời là vị Tổng thống dân cử đầu tiên tại châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt bà Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này phế truất và bắt giam với các cáo buộc; rằng bà Park đã tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà Choi Soon-sil (bạn thân của bà Park) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như các công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.

Như vậy, tính đến năm 2018, trong số 11 Tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền Tổng thống chỉ tạm đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có một người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ.

Tái thống nhất với Bắc Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc phát biểu ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án lên tới 10 năm tù giam[24][25][26]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi.

Năm 2000, hai chính phủ đã chính thức gặp gỡ với nhau. Cuộc gặp gỡ này được xem như là sự thắng lợi của chính sách ánh dương trong việc bình thường hoá quan hệ giữa hai miền Triều Tiên.

Quá trình phát triển nền kinh tế

 
Từ năm 1962 đến 1994, nền kinh tế Hàn Quốc đã tăng trưởng trung bình trên 10% mỗi năm, giai đoạn này được gọi là "Kỳ tích trên dòng sông Hán".

Sau Chiến tranh Triều Tiên, vào giai đoạn lịch sử trước khi Tướng Park Chung Hee nắm quyền vào năm 1961, kinh tế Hàn Quốc khá nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người ít hơn $100 USD mỗi năm. Hàn Quốc thời điểm đó được xếp hạng là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Ở giai đoạn này, kinh tế Hàn Quốc cơ bản phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ. Khi đó, viện trợ của Chính phủ Mỹ chiếm tới gần 80% tổng ngân sách của chính phủ và chiếm một tỉ lệ rất lớn trong tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của Hàn Quốc. Mặc dù một số khu vực của đất nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản, nhưng nhìn chung vào đầu thập niên 60 Hàn Quốc vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu và kém phát triển hơn về mọi mặt so với nền kinh tế của CHDCND Triều Tiên vốn được Trung Quốc, Liên Xô và khối các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa giúp đỡ, hậu thuẫn. Để tái tạo động lực phát triển kinh tế, Park Chung Hee đã mang "kỷ luật quân đội" và chính sách độc tài áp dụng trên toàn quốc. Một trong những mục tiêu chính của tướng Park là chấm dứt tình trạng lạc hậu, nghèo đói ở Hàn Quốc và biến đất nước từ một nền kinh tế thuộc Thế giới thứ ba trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới.[27]

Ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính để lên nắm chính quyền vào tháng 7 năm 1961, tướng Park Chung Hee tuyên bố rằng ông sẽ tiến hành “dọn rác” để làm sạch xã hội.[28] Ông đã trực tiếp chỉ đạo các lực lượng cảnh sát, quân đội thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp, bắt bớ và tuyên bố trước hơn 20.000 sinh viên của Đại học Seoul rằng: “Toàn dân Hàn Quốc phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng mà làm việc nếu muốn được sống còn. Nếu làm được như vậy thì trong vòng 10 năm tới, chúng ta sẽ tạo ra được một nền kinh tế đứng đầu ở khu vực Đông Á, và sau 20 năm, chúng ta sẽ trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới... Hôm nay, có thể có một số người dân còn bất đồng ý kiến với tôi, nhưng xin hiểu cho rằng tổ quốc của chúng ta quan trọng hơn quyền lợi cá nhân. Tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. Tôi sẽ bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công dù chỉ một đồng. Tôi sẵn lòng chết cho lý tưởng mình đã đề ra”.[29]

Việc đầu tiên ông làm là đem tử hình 24 quan chức và doanh nhân vì tội tham nhũng. Mọi người đều phải làm việc hết sức mình, ai làm không chăm sẽ bị phê bình, mắng nhiếc trước mặt mọi người, thậm chí, trong văn hóa, nội quy của các công ty, doanh nghiệp Hàn Quốc thời bấy giờ có quy định "nếu như nhân viên mắc lỗi, làm sai hoặc lười biếng thì cấp trên có quyền tát bạt tai để làm gương mà người đó không được phép tỏ thái độ hay phản đối". Một số ngành do quân đội xây dựng, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền trừng phạt bằng đòn roi. Những du học sinh trước khi ra nước ngoài học tập phải cam kết không ở lại nước ngoài mà phải về nước phục vụ dù muốn hay không, những ai đã học xong mà không quay về nước thì gia đình họ sẽ phải chịu những hình phạt nặng.

Park chuyển chiến lược của nền kinh tế đất nước từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Park thành lập một Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) để điều hành nền kinh tế đất nước. Lấy kế hoạch năm năm của Liên Xô làm kiểu mẫu, Park đã đề ra Kế hoạch năm năm đầu tiên vào năm 1962, nhiệm vụ chủ chốt của Kế hoạch năm năm đầu tiên là tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhằm mục đích xuất khẩu. Ông tuyên bố thành phố Ulsan là một "khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt" của đất nước. Ngay sau đó, Hyundai - một trong những tài phiệt lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh chân tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này thành nơi đặt các nhà máy chính của mình.

Hầu hết các nhà sử học đều coi Kế hoạch năm năm đầu tiên là điểm cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1966, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc đạt tới 7,6%. Sản lượng xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, sản lượng sản xuất tăng trên 15% mỗi năm. Vì các chính sách phát triển kinh tế của Park được thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc và mong muốn giành quyền tự chủ cho đất nước của mình, do đó Park chủ trương không để cho nền kinh tế của Hàn Quốc bị phụ thuộc và chi phối bởi nước ngoài. Do đó, ban đầu ông đã ra sức hạn chế đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo lời khuyên của các nhà kinh tế, ông bắt đầu dần dần nới lỏng những hạn chế này. Năm 1966, Đạo luật kích thích vốn đầu tư nước ngoài được chính phủ Park thông qua đã cung cấp những ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và hợp lý hóa quy trình đầu tư vào Hàn Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1967-1971) cũng đã nhấn mạnh hơn vào việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước.[30]

Vào năm 1972, Park tuyên bố thiết quân luật và ban hành một hiến pháp mới mang lại cho ông ta quyền lực tuyệt đối tới mức gần như trở thành một nhà độc tài. Sử dụng quyền lực của mình, Park đã chuyển hướng nền kinh tế của đất nước sang tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nặnghóa chất. Từ năm 1973, nền kinh tế Hàn Quốc đặt trọng tâm chủ yếu vào 6 ngành: thép, hóa chất, luyện kim, chế tạo máy, đóng tàuđiện tử. Giai đoạn phát triển công nghiệp này tập trung tại các thành phố nhỏ nằm ở phía đông nam của đất nước.[31]

Kế hoạch phát triển kinh tế của Park Chung Hee là dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, tiêu dùng hết sức tiết kiệm. Để người lao động có thể sống với mức lương rất thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp giữ giá những sản phẩm nông nghiệp ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, các tập đoàn công nghiệp của Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu, nhưng chỉ để xuất khẩu, trong nước chỉ dùng TV trắng đen. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, xe hơi cao cấp, quần áo thời trang... bị hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa.

Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh rất lớn của tầng lớp lao động. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng triệt để, không có ngoại lệ, từ Tổng thống, quan chức đến dân chúng. Người dân, người lao động Hàn Quốc thời kỳ đó phải làm việc cật lực, nặng nhọc và triền miên, nhưng sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền. Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày. Điều kiện lao động kém, tiền lương rất thấp. Những phản kháng tự phát của công nhân, nông dân hoặc của dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung Hee đàn áp không thương tiếc. Như Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về kinh tế của tờ Time (Mỹ) về sau nhận định: “Chế độ Park Chung Hee đã thực hiện quyền kiểm soát nhà nước đối với nền kinh tế một cách tàn bạo vượt xa cả con quỷ Sahashi”.[32]

 
Một phụ nữ Việt Nam 21 tuổi bị lính Hàn Quốc cắt trong cuộc thảm sát tại làng Phong Nhị, tỉnh Quảng Nam, ngày 12 tháng 2 năm 1968.

Mặt khác, Hàn Quốc đã cử khoảng 320.000 quân nhân sang tham chiến cùng với Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam để đổi lấy những khoản viện trợ từ phía chính phủ của quốc gia này. Ước tính có hơn 5.000 binh lính Hàn Quốc đã chết và khoảng 11.000 lính khác bị thương tật nặng trong cuộc chiến này[33][34]. Đội quân này cũng gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ thảm sát thường dân Việt Nam khi tham chiến và đã bỏ lại nơi đây hàng ngàn đứa con lai sau khi rời đi (Hàn Quốc thống kê lính của họ đã giết tổng cộng 41.000 người Việt Nam[35] bị nghi ngờ là Việt Cộng, phần lớn là thường dân). Đổi lại, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ mọi khoản chiến phí và trả tiền lương cho lính Hàn Quốc. Tổng cộng Mỹ đã viện trợ hoặc cho Hàn Quốc vay khoảng 10 tỷ USD (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá năm 2017) từ năm 1946 tới năm 1978. Trong đó nhiều nhất là trong giai đoạn 1965-1972, khi Hàn Quốc cử lính sang Việt Nam để đánh thuê cho Mỹ: chỉ riêng trong 8 năm này, Hàn Quốc nhận được 5 tỷ USD viện trợ của Mỹ (tương đương 35 tỷ USD theo thời giá 2017), nhiều gấp 3 lần mức viện trợ trong giai đoạn trước. Trong hai năm đầu (1965-1966), thu nhập từ việc đánh thuê cho Mỹ chiếm 40% thu nhập ngoại hối của Hàn Quốc. Một số học giả cho rằng số tiền có được từ cuộc chiến chiếm từ 7-8% GDP của Hàn Quốc trong những năm 1966-1969.[36] Số tiền đánh thuê được chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức "bán công khai" như trợ cấp phát triển quốc phòng, hợp đồng dân sự, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các Tổng thống JohnsonNixon.[37] Các công ty Hàn Quốc như Hyundai đã tích lũy được những kinh nghiệm quý báu trong việc hoàn thành các dự án xây dựnggiao thông cho Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, kinh nghiệm mà họ đã áp dụng để giành được nhiều hơn những hợp đồng béo bở ở Trung Đông và nhiều nơi khác trên thế giới.

Nhờ viện trợ và tiền lương của Mỹ trả cho binh lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam, kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng. Chỉ trong 10 năm từ 1964 tới 1974, GNP bình quân của Hàn Quốc đã tăng hơn 5 lần (từ 103 USD lên 541 USD). Rất nhiều máu đã đổ khi lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam, và nhiều ý kiến khẳng định rằng những tổn thất sinh mạng đó đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc[35]. Sau này, trong bài phát biểu nhân “Ngày tưởng niệm" (6/6/2017), Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã khẳng định rằng:[38]

“Nền kinh tế Hàn Quốc đã tồn tại được là nhờ vào sự cống hiến và hy sinh của những người lính tham gia chiến tranh Việt Nam!”

Nhật Bản cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc. Park đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào năm 1965, một động thái gặp phải sự phản đối gay gắt của người dân Hàn Quốc. Lao động giá rẻ ở trong nước kết hợp với vốn và công nghệ của Nhật Bản đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc. Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Nhật Bản đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai ở Hàn Quốc, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Trong vòng mười năm sau đó, thương mại giữa hai nước đã mở rộng hơn mười lần; Từ năm 1962 đến 1979, 60% công nghệ từ nước ngoài của Hàn Quốc là do Nhật Bản cung cấp[39]. Thị trường Mỹ cùng với các khoản đầu tưchuyển giao công nghệ của Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển biến thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc. Kinh tế Nhật Bản cũng là một mô hình hoàn hảo để Hàn Quốc noi theo trong công cuộc phát triển kinh tế. Trong thời kỳ thuộc địa và kể cả sau khi giành được độc lập, người Hàn Quốc đã học hỏi được rất nhiều điều từ người Nhật về những gì mà một quốc gia không thuộc phương Tây có thể làm để công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành công. Một nhà kinh tế học người Hàn Quốc đã mô tả chính sách của cộng đồng doanh nghiệp nước này là “Làm hệt như những gì người Nhật đã làm, nhưng làm điều đó một cách nhanh hơn, hiệu quả và ít tốn kém hơn”.[40]

Park Chung Hee cho rằng, Hàn Quốc cần phải phát triển kinh tế vững mạnh trước khi có thể có dân chủ: “Người châu Á sợ hãi đói nghèo hơn là sợ độc tài. Các dân tộc châu Á muốn có bình đẳng kinh tế trước rồi sau đó mới xây dựng cơ chế chính trị công bằng hơn… và viên ngọc chẳng có gì rực rỡ được gọi là chế độ dân chủ là vô nghĩa đối với những người đói khát và tuyệt vọng”. Bằng lý lẽ này, Park Chung Hee sử dụng hệ thống cảnh sát mật để theo dõi và dẹp tan mọi hành vi chống lại ông. Tất cả mọi cá nhân có phát ngôn hoặc hành động chống lại Chính phủ, mọi cuộc biểu tình đòi tăng lương đều bị trấn áp thẳng tay. Park Chung Hee sử dụng luật an ninh chống cộng để bỏ tù và tra tấn bất cứ ai bất đồng chính kiến. Các cuộc biểu tình, hệ thống báo chí và phát ngôn nói chung đều bị kiểm duyệt hà khắc. Các sĩ quan cảnh sát mang thước và chặn thanh niên trên phố để đo tóc và váy của họ. Chính quyền sẽ can thiệp rất thô bạo nếu thanh niên để tóc dài, phụ nữ mặc váy ngắn. Gián điệp, chỉ điểm có mặt khắp mọi nơi, giám sát đến cả trường học. Những người bất đồng chính kiến khó thoát khỏi bị bắt và kết cục là cuộc sống mòn mỏi ở trong tù. Ở Hàn Quốc thời điểm này, nếu một người bị quy là người cộng sản, người đó sẽ mất hết mọi quyền tồn tại trong xã hội. Quy kết và phê phán nhằm vào một chính sách nào đó của chính phủ, chính khách đối lập là mang tư tưởngCộng sản chủ nghĩa” là phương cách được chính quyền Park ưa thích và tận dụng rất hiệu quả. Khi một nhà hoạt động xã hội bị bắt, người đó sẽ bị tra tấn dã man để phải thú nhận mình là người cộng sản[41]. Cho đến nay, không một chính trị gia Hàn Quốc nào có thể tạo được uy quyền bao trùm cũng như khiến nhiều người dân Hàn Quốc sợ hãi như Park Chung Hee.

Chế độ độc tài quân sự của Park Chung Hee mang tính chất chuyên chế độc đoán, phản dân chủ mạnh mẽ, nhưng cũng không thể phủ nhận những mặt tích cực của chế độ chính trị này đối với việc định hướng diện mạo nền kinh tế và xã hội Hàn Quốc ngày nay[17]. Bên cạnh các biện pháp chính trị, Park Chung Hee sử dụng các yếu tổ văn hóa Nho giáo để thúc đẩy phát triển đất nước. Vào đầu những năm 1970, Park Chung Hee dự định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được hiện đại hóa. “Phong trào xây dựng nông thôn mới” đã đập phá nhiều di sản văn hóa, những truyền thống đều bị coi là “cổ hủ”, "lạc hậu" và "lỗi thời", cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa. Nhưng về tư tưởng, Park Chung Hee nhận thấy ông không thể đưa ra được một học thuyết chính trị mới nào để thay thế Nho giáo mà nhận ra rằng, không thể không sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là giá trị quan xuyên suốt nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc. Đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả Hàn Quốc về tính hữu dụng của truyền thống, của yếu tố tích cực trong Nho giáo mà kết quả cuối cùng là Park Chung Hee đã đi đến quyết định: "Giá trị quan của Nho giáo về "Trung" và "Hiếu" là nền tảng của xã hội", những chính sách giáo dục đề cao đạo Khổng được ông ra chỉ thị tiếp tục dạy trong nhà trường và truyền bá sâu rộng trong đời sống nhân dân.[42]

Sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đã cải thiện đáng kể mức sống cho người dân Hàn Quốc. Cuối năm 1965, khoảng 58,7% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50,4% vào năm 1970 và 38,4% vào năm 1978. Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số đô thị của Hàn Quốc, tăng từ 28,3% tổng số năm 1960 lên 54,9% vào năm 1979. Năm 1960, khoảng một phần ba trẻ em từ 12 đến 14 tuổi theo học tại các trường trung học; tỷ lệ đó tăng lên 53,3% vào năm 1970 và 74,0% vào năm 1975. Năm 1960, chỉ có khoảng 19,9% dân số từ 15 đến 17 tuổi đi học; tỷ lệ đó tăng lên 29,3% vào năm 1970 và 40,5% vào năm 1975[43]. Năm 1970, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu đã được hoàn thành, liên kết Seoul với khu vực phía đông nam của quốc gia và các thành phố cảng lớn như IncheonBusan[44]. Vào năm 1969, cả nước chỉ có 200.000 máy truyền hình, đến năm 1979 đã có sáu triệu máy truyền hình [45]. Nếu như vào năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc tivi; thì đến năm 1979, đã có 4/5 hộ gia đình Hàn Quốc sở hữu TV.[45]

Nhờ những biện pháp cứng rắn về chính trị, khắc khổ về kinh tế cũng như sử dụng yếu tố văn hóa, từ thập niên 1960, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ rất nhanh. Vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, Tổng thống Park Chung Hee bị ám sát. Một thời kỳ hỗn loạn chính trị tiếp diễn, cộng với sự tăng vọt của giá dầu mỏ trong năm 1979, một vụ thu hoạch lúa thất bát và tỷ lệ lạm phát đáng báo động là 44%, khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc phải chịu mức suy thoái lên tới 6% trong năm 1980. Nhưng nền kinh tế đã nhanh chóng phục hồi. Thập niên 1980 chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao, đạt đỉnh điểm vào những năm 1986-1988 ở mức 12% mỗi năm, nền kinh tế Hàn Quốc trở thành nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới thời điểm đó. Hàn Quốc được xếp vào một trong những nước công nghiệp hóa mới (NICs) của thế giới. Những năm sau đó, tốc độ tăng trưởng chậm lại, nhưng nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng nhanh cho đến năm 1996 với tốc độ tăng trưởng trung bình là hơn 10% mỗi năm [46].Năm 2004, GDP của Hàn Quốc là 680 tỉ USD (Đô la Mỹ), đứng thứ 12 trên thế giới. Thành công trong phát triển kinh tế của Hàn Quốc được gọi là "Kỳ tích sông Hán" (한강의 기적).

 
Tổng hành dinh của Tập đoàn Samsung - Chaebol lớn mạnh nhất Hàn Quốc.

Trong bối cảnh chính trị như vậy, nền kinh tế Hàn Quốc cũng phát triển theo mô hình "Độc tài". Các Chaebol - tức Tài phiệt (財閥, 재벌)[47], là tên gọi của các đại tập đoàn gia đình lớn của Hàn Quốc. Thông thường tài phiệt là các tập đoàn đa quốc gia, với thành viên bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp quốc tế[47] nhưng đều nằm dưới sự điều khiển của một ông chủ nắm quyền hành trên tất cả các cơ sở này.[47][48] Hiện nay, ở Hàn Quốc có đến hàng chục nhóm tài phiệt như vậy, hầu hết nằm dưới sự điều khiển tuyệt đối của một vài gia tộc. Đến năm 2008, khoảng 80% GDP của Hàn Quốc có nguồn gốc từ các tài phiệt[49], chỉ riêng Samsung đã chiếm tới 1/5 giá trị xuất khẩu của nước này. Các tài phiệt đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối nền chính trị Hàn Quốc. Ví dụ, vào năm 1988, chủ tịch của tập đoàn Hyundai là ông Jeong Mong-jun đã trúng cử vào Quốc hội Hàn Quốc. Một số lãnh đạo tài phiệt khác cũng trúng cử đại biểu quốc hội thông qua cơ chế đại biểu tỷ lệ.

Các tài phiệt chỉ nắm giữ một phần nhỏ cổ phần nhưng lại có rất nhiều quyền lực và có khả năng kiểm soát tất cả các công ty con. Ví dụ Samsung chỉ sở hữu 0,5% tài sản của các hãng thuộc quyền, nhưng thực tế thì một tổ chức mẹ có quyền chi phối mọi mặt tất cả các công ty con này. Điều này cho thấy mức độ tuân thủ pháp luật ở các tài phiệt Hàn Quốc là rất thấp.[48] Các tài phiệt duy trì quyền lực của mình thông qua việc sở hữu chéo (cross-holding).[50] Các tài phiệt lũng đoạn nền kinh tế của Hàn Quốc, một số công ty như Hyundai và SK thậm chí có dính líu đến các vụ bê bối liên quan tới các tổng thống như Kim Dae-jung, Roh Moo-hyun.[51]

Từ 1998 đến 2007, Hàn Quốc đã có những tiến bộ trong tiến trình dân chủ hoá, song đôi khi vẫn trượt theo hướng độc tài. Đã có rất nhiều tổ chức phi chính phủ giả hiệu (pseudo-NGOs) hoạt động theo mệnh lệnh của chính quyền, nhiều nhóm cánh hữu, nhiều tổ chức hiện “vẫn tìm cách bảo vệ những quyền ưu tiên mà họ có được từ thời của chế độ độc tài. Ở Hàn Quốc, quá trình dân chủ hoá diễn ra trong bối cảnh của tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là sự phát triển kinh tế trực tiếp thúc đẩy dân chủ hoá. Các phương thức phát triển kinh tế trở nên phản nhân văn và mang nặng tính bóc lột. Người Hàn Quốc hiện nay phải gánh chịu rất nhiều áp lực trong cuộc sống, nhất là về công việc và học tập.[52]

Địa lý

 
Bản đồ mô phỏng địa hình của Hàn Quốc.

Hàn Quốc nằm ở phần phía nam bán đảo Triều Tiên thuộc khu vực Đông Á. Nước này có đường biên giới trên bộ duy nhất với CHDCND Triều Tiên, nằm ở phía bắc với đường biên giới dài 238 km dọc theo Khu phi quân sự Triều Tiên. Hàn Quốc chủ yếu được bao bọc bởi biển, với 2.413 km đường bờ biển. Phía tây là Hoàng Hải, phía Nam là Biển Hoa Đông, và phía đông là đảo Ulleungdođảo Liancourt trong Biển Nhật Bản. Về mặt địa lý, diện tích đất của Hàn Quốc là khoảng 100.032 km² (38.623 sq mi)[53], 290 km² vuông (110 mi²) 290 dặm vuông (110 dặm vuông) của Hàn Quốc bị chiếm bởi nước. Các toạ độ gần đúng là 37° Bắc, 127°30 Đông. Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía đông; vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và Nam. Bãi bồi ven biển Saemangeumbãi nổi ven biển lớn thứ hai trên thế giới.

Địa hình

Không giống như Nhật Bản hay các tỉnh phía bắc của Trung Quốc, địa chất Bán đảo Triều Tiên tương đối ổn định. Không có núi lửa hoạt động (ngoại trừ núi Bạch Đầu ở biên giới giữa Bắc Triều TiênTrung Quốc, hoạt động gần đây nhất năm 1903), và không có những trận động đất mạnh.

Hàn Quốc không có các vùng đồng bằng rộng, các vùng đất thấp là sản phẩm của hoạt động xói mòn núi. Khoảng 30% lãnh thổ Hàn Quốc là các vùng đất thấp, phần còn lại bao gồm vùng cao và những ngọn núi. Phần lớn các vùng đất thấp nằm dọc theo bờ biển, đặc biệt là bờ biển phía tây, và dọc theo con sông lớn. Đồng bằng quan trọng nhất là đồng bằng Sông Hán nằm xung quanh Seoul, Pyeongtaek ven biển phía tây nam của Seoul, các lưu vực sông Geum, sông Nakdong, và YeongsanHonam ở phía tây nam. Một dải đồng bằng hẹp ven biển chạy dọc theo bờ biển phía đông.

Khoảng ba ngàn hòn đảo, chủ yếu là nhỏ và không có người ở, nằm ngoài bờ biển phía tây và phía nam của Hàn Quốc. Jeju nằm cách bờ biển phía nam của Hàn Quốc khoảng 100 km. Đây là hòn đảo lớn nhất của đất nước, với diện tích 1.845 km². Jeju cũng là địa điểm có ngọn núi cao nhất của Hàn Quốc: Hallasan, một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động, với độ cao 1.950 m so với mực nước biển. Các hòn đảo phía đông của Hàn Quốc bao gồm UlleungdoLiancourt (Dokdo / Takeshima), trong khi MaradoSocotra những hòn đảo cực nam của Hàn Quốc.

 
Ảnh vệ tinh của Hàn Quốc vào ngày 3/5/2010, trước khi tuyết rơi kỷ lục kể từ năm 1937 tại khu vực Seoul.

Thành phố lớn nhất Hàn Quốc là Seoul (Hán Thành), dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người, nằm ở phía tây Bắc. Những thành phố lớn khác là Incheon (Nhân Xuyên) ở phía tây Seoul, Daejeon (Đại Điền) ở miền trung, Gwangju (Quang Châu) ở phía tây nam, Daegu (Đại Khâu) và Busan (Phủ Sơn) ở phía đông nam.

Khí hậu

Seoul
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
123456789101112
 
 
22
 
 
2
−6
 
 
24
 
 
4
−4
 
 
46
 
 
10
1
 
 
77
 
 
18
7
 
 
102
 
 
23
13
 
 
133
 
 
27
18
 
 
328
 
 
29
22
 
 
348
 
 
30
22
 
 
138
 
 
26
17
 
 
49
 
 
20
10
 
 
53
 
 
12
3
 
 
25
 
 
4
−3
Trung bình tối đa và tối thiểu. Nhiệt độ tính theo °C
Tổng lượng giáng thủy tính theo mm
Nguồn: [54]

Những cơn mưa nặng hạt tập trung vào một quãng thời gian ngắn ngủi trong mùa hè. Mùa mưa được gọi là Jangma. Vào mùa đông nhiệt độ thường xuyên dưới 0°C và có thể xuống rất thấp. Gió mùa mang không khí lạnh từ Siberi thổi tới. Hiếm khi nào mưa ít hơn 750 milimét (29,5 in)in) trong năm, phần lớn các năm đều có lượng mưa trên 1.000 milimét (39,4 in) in). Thế nên, đất nước này có đủ mưa để duy trì sản xuất nông nghiệp của mình.

Do ở phía Nam và bị biển bao bọc chung quanh, Đảo Jejuthời tiết ấm hơn và dễ chịu hơn so với các vùng khác của Hàn Quốc. Nhiệt độ trung bình trên đảo Jeju khoảng từ 2,5 °C (36,5 °F) trong tháng Giêng đến 25 °C (77 °F) trong tháng Bảy.

Hàn Quốc ít bị bão hơn so với Nhật Bản, Đài Loan, bờ biển phía đông của Trung Quốc, Philippines. Có khoảng từ 1-3 cơn bão mỗi năm. Bão thường đổ bộ vào Hàn Quốc vào cuối mùa hè, đặc biệt là trong tháng Tám, và mang lại những cơn mưa xối xả. Lũ lụt thỉnh thoảng gây ra thiệt hại đáng kể, như làm sạt lở đất, do địa hình chủ yếu là đồi núi của đất nước.

Đơn vị hành chính

Lãnh thổ Hàn Quốc bao gồm 1 thủ đô (đặc biệt thị), 8 tỉnh (đạo), 6 thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị), 1 tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) và 1 thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị).

Bản đồTênHangulHanjaâm Hán ViệtDân số
Thủ đô (đặc biệt thị) (Teukbyeolsi)
Seoul서울특별시首爾特別市Thủ Nhĩ đặc biệt thị9,794,304
Thành phố lớn (Quảng vực thị) (Gwangyeoksi)
Busan부산광역시釜山廣域市Phủ Sơn quảng vực thị3,635,389
Daegu대구광역시大邱廣域市Đại Khâu quảng vực thị2,512,604
Incheon인천광역시仁川廣域市Nhân Xuyên quảng vực thị2,628,000
Daejeon대전광역시大田廣域市Đại Điền quảng vực thị1,442,857
Gwangju광주광역시光州廣域市Quang Châu quảng vực thị1,456,308
Ulsan울산광역시蔚山廣域市Uất Sơn quảng vực thị1,087,958
Tỉnh (đạo) (Do)
Gyeonggi경기도京畿道Kinh Kỳ đạo10,415,399
Gangwon강원도江原道Giang Nguyên đạo1,592,000
Chungcheong Bắc충청북도忠淸北道Trung Thanh Bắc đạo1,462,621
Chungcheong Nam충청남도忠淸南道Trung Thanh Nam đạo1,840,410
Jeolla Bắc전라북도全羅北道Toàn La Bắc đạo1,890,669
Jeolla Nam전라남도全羅南道Toàn La Nam đạo1,994,287
Gyeongsang Bắc경상북도慶尙北道Khánh Thượng Bắc đạo2,775,890
Gyeongsang Nam경상남도慶尙南道Khánh Thượng Nam đạo2,970,929
Tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) (Teukbyeoljachi-do)
Jeju제주특별자치도濟州特別自治道Tế Châu đặc biệt tự trị đạo560,000
Thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị) (Teukbyeol-jachisi)
Sejong세종특별자치시世宗特別自治市Thế Tông đặc biệt tự trị thị122,263

Chính trị

Người đứng đầu Đại Hàn Dân Quốc là Tổng thống do công dân Hàn Quốc từ đủ 18 tuổi trở lên trực tiếp bỏ phiếu bầu ra mỗi năm năm một lần và không được phép tái ứng cử. Tổng thống là đại diện cao nhất của quốc gia và có toàn quyền chỉ huy quân đội (tương đương với chức vụ: Tổng Tư lệnh). Tổng lý Quốc vụ (국무총리 / 國務總理, Gungmuchongni) - chức vụ Thủ tướng cũng do Tổng thống chỉ định nhưng Tổng thống mới thực sự là người lãnh đạo Chính phủ. Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên. Thành viên chính phủ do Thủ tướng chỉ định. Chức vụ Thủ tướng cũng như Bộ trưởng phải được sự thông qua của Quốc hội.

Nơi ở và làm việc chính thức của Tổng thống Hàn Quốc hiện nay là một Cung điện cổ được xây dựng từ thời kỳ Hoàng triều Joseon, được gọi với danh xưngNhà Xanh.

Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện và được gọi là 국회 (國會, Gukhoe, Quốc hội). Đại biểu Quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần. Quốc hội có tất cả 299 đại biểu và tổng cộng 300 ghế.

Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị của Hàn Quốc là Toà án tối cao. Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng. Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao. Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này, ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên vẫn phải được sự chấp thuận của Tổng thống. Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại.

Quân đội

 
Không quân Hàn Quốc

Lực lượng vũ trang của Hàn Quốc là một trong những lực lượng quân sự mạnh, nếu tính đến lực lượng gián tiếp phục vụ cho quân đội, tổng số quân của Hàn Quốc năm 2006 là 5.187.000 (687.000 phục vụ trực tiếp và 4.500.000 dự bị).[57]

Quân đội Hàn Quốc bao gồm có 4 quân chủngLục quân (ROKA), Hải quân (ROKN), Không quân (ROKAF), và Thủy quân lục chiến (ROKMC), cùng với một số lượng rất lớn các lực lượng quân dự bị.[58] Theo hiến pháp, công dân Hàn Quốc là nam giới từ 18 tuổi đến 28 tuổi đều phải có ít nhất một lần thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc, thường là trong vòng 21 tháng đối với lục quân và thủy quân lục chiến, 23 tháng đối với hải quân và 24 tháng đối với không quân. Năm 2010, đã có nhiều ý kiến kêu gọi chính phủ Hàn Quốc rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự tự nguyện[59] nhưng cho đến nay vẫn chưa có thay đổi gì.

Theo hiệp định được ký kết năm 1953, trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự, quân đội Hàn Quốc không được tự đưa ra quyết định mà họ phải nằm dưới sự chỉ huy của một viên tướng bốn sao trực thuộc quân đội Mỹ, và rất nhiều người Hàn Quốc tin rằng quân đội của họ sẽ không thể trụ vững trước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nếu không dựa vào Mỹ[60], còn phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì luôn luôn coi quân đội Hàn Quốc chỉ là quân đội tay sai của ngoại quốc để nhằm ngăn cản sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Triều Tiên.[61][62]

Ngoại giao

CHDCND Triều Tiên

Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận rất sôi nổi ở Hàn Quốc hiện nay, thậm chí, người ta còn đã đề cập đến khả năng áp dụng thể chế chính trị "một quốc gia, hai chế độ" để tái thống nhất bán đảo, nhưng hiện vẫn chưa có hiệp định hoà bình nào được ký kết, khiến cho đề xuất trên hay các ý kiến khác mới chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ, tuyên truyền hoặc phát biểu, diễn thuyết ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án lên tới 10 năm tù giam[24][25][26]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại nó vẫn chưa được thực thi.

Cả Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều tuyên bố chủ quyền của mình đối với toàn bộ bán đảo và các hòn đảo xa bờ, cả hai cũng đồng thời coi chính quyền của họ là chính quyền hợp pháp duy nhất trên bán đảo Triều Tiên. Những nỗ lực hòa giải giữa hai miền vẫn tiếp tục tiếp diễn kể từ khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tuy nhiên tiến trình hòa giải này hứa hẹn vẫn sẽ còn phức tạp sau các vụ thử tên lửa đạn đạo của CHDCND Triều Tiên thời gian gần đây, khiến cho mối quan hệ giữa hai miền trở nên căng thẳng. Năm 2017, tân Tổng thống Moon Jae-in lên nắm quyền, hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi lớn nhằm cải thiện mối quan hệ giữa hai nhà nước. Trong một cuộc khảo sát vào năm 2014, số người Hàn Quốc được hỏi có cái nhìn tích cực về CHDCND Triều Tiên chỉ chiếm 3%, tuy nhiên theo một cuộc khảo sát khác vào năm 2017 của chính phủ, có tới 56% người Hàn Quốc ủng hộ việc thống nhất với miền Bắc.[63][64]

Vào năm 2018, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đã tổ chức 3 hội nghị thượng đỉnh liên Triều vào tháng 4, tháng 5, và tháng 9.

Nhật Bản

Mặc dù là hai quốc gia láng giềng và đều là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Bắc Á, người dân (đặc biệt là các thế hệ trung và cao tuổi Hàn Quốc) đa phần đều có cái nhìn tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân chủ yếu do phải chịu cai trị của Nhật Bản trong 35 năm kể từ khi Nhật chiếm bán đảo Triều Tiên vào năm 1910. Dù Nhật Bản đã trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 1945 nhưng phải chờ đến tận năm 1965 thì hai quốc gia mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc.[65]

Trong giai đoạn bán đảo Triều Tiên bị Đế quốc Nhật Bản xâm lược và đô hộ (1910-1945), hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với thực dân Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với quân Nhật là "Ngụy quân". Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, đến năm 2019, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng “xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu”.[66]

Hai quốc gia hiện cũng đang có những tranh chấp trong việc tuyên bố chủ quyền đối với đảo Liancourt. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều coi hòn đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời của họ [67][68][69][70], dẫn đến những tranh cãi gay gắt và hiện nay vẫn chưa tìm được biện pháp giải quyết. Ngoài ra, giữa 2 nước gần đây cũng bắt đầu xảy ra những mâu thuẫn liên quan đến vấn đề thương mại, bắt nguồn từ việc toà án Tối cao Hàn Quốc ra bản án buộc các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản như Mitsubishi, Toyota, Sumitomo,... phải bồi thường thiệt hại cho những người Hàn Quốc bị ép buộc lao động khổ sai trong thời kỳ Phát xít Nhật chiếm đóng Triều Tiên, Nhật Bản không đồng ý vì cho rằng vấn đề đó đã được giải quyết từ hiệp ước năm 1965 khi nước này tiến hành bình thường hóa mối quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, đồng thời áp đặt lệnh hạn chế xuất khẩu các nguyên vật liệu dùng trong công nghệ cao sang Hàn Quốc và gạch tên nước này khỏi danh sách các quốc gia được hưởng ưu đãi thương mại từ Chính phủ Nhật Bản[71], Hàn Quốc đáp trả bằng các biện pháp tương tự, trong đó bao gồm việc chấm dứt hiệp định chia sẻ thông tin tình báo chung đã được ký kết với Nhật Bản từ trước đó (hay còn được biết đến với tên gọi Thỏa thuận An ninh chung về Thông tin Quân sự (GSOMIA))[72], dẫn đến nguy cơ bùng phát một cuộc "Chiến tranh thương mại" mới với tính chất và mức độ rủi ro tương tự như Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, đáng lo ngại hơn, cuộc chiến này sẽ nổ ra giữa 2 nền kinh tế hàng đầu tại châu Á[73][74], gây gián đoạn chuỗi cung ứng cho các sản phẩm công nghệ cao trên toàn cầu[75] đồng thời đẩy giá thành của các sản phẩm công nghệ đó lên cao[76], mặc dù đã có một số cuộc gặp cấp cao được tổ chức, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một cuộc đàm phán song phương chính thức nào để giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trên.

Chính phủ Hàn Quốc kiểm duyệt khắt khe các bộ phim, trò chơi, âm nhạc của Nhật Bản do tâm lý bài Nhật kể từ sau thời kỳ Triều Tiên thuộc Nhật thông qua luật kiểm duyệt truyền thông Nhật Bản tại Hàn Quốc. Tính đến năm 2018, Hàn Quốc vẫn còn cấm phát sóng phim truyền hình Nhật Bảnâm nhạc Nhật Bản trên truyền hình mặt đất tại Hàn Quốc.[77] Năm 2014, bài hát tiếng Hàn Uh-ee của ban nhạc Hàn Quốc Crayon Pop bị KBS cấm phát sóng vì có từ tiếng Nhật pikapika trong lời bài hát.[78] Năm 2018, nhóm nhạc nữ IZ*ONE có các bài hát có tiếng Nhật không được phép phát sóng trên truyền hình mặt đất vì nội dung đậm 'màu sắc Nhật Bản', Fuji News Network nhận xét "sự ghê tởm đối với văn hóa Nhật Bản tại Hàn Quốc vẫn còn rất mạnh mẽ".[79]

Trung Quốc

 
Đại sứ quán Hàn Quốc tại thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc.

Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hàn Quốc nhìn chung là rất thù địch vào khoảng thời gian trước những năm 1980, khi ấy Trung Quốc chỉ công nhận chính quyền Bắc Triều Tiên trong khi Hàn Quốc chỉ công nhận chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan. Hàn Quốc trở thành quốc gia châu Á cuối cùng thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 24 tháng 8 năm 1992. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Hàn Quốc đã nỗ lực thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác trong nhiều lĩnh vực, trong đó: đầu tưchuyển giao công nghệ, thương mại, du lịch và văn hóa là những yếu tố quan trọng nhất để tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nhà nước.

Mối quan hệ giữa hai nước đã xấu đi đáng kể vào cuối năm 2016 sau khi Hàn Quốc tuyên bố ý định triển khai THAAD (Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối) trên lãnh thổ nước này, một động thái mà Trung Quốc phản đối gay gắt. Hoa Kỳ tuyên bố rằng việc triển khai THAAD hoàn toàn là một biện pháp phòng thủ, chỉ nhắm vào Bắc Triều Tiên và không có ý định đe dọa lợi ích an ninh của Trung Quốc, song chính phủ Trung Quốc lại coi đây là một động thái chống lại họ [80]. Trung Quốc đã áp đặt một chiến dịch tẩy chay không chính thức đối với Hàn Quốc trong nỗ lực ngăn chặn họ triển khai hệ thống tên lửa. Truyền thông đã đưa tin về việc công dân Trung Quốc tẩy chay các sản phẩm có xuất xứ từ từ Hàn Quốc chẳng hạn như xe hơi của Hyundai, điện thoại di động và các sản phẩm công nghệ của Samsung, LG,... Hàng hóa của Hàn Quốc sau đó bị loại bỏ khỏi kệ hàng siêu thị tại Trung Quốc, nhiều thương hiệu bán lẻ lớn như Lotte, CJ đóng cửa cơ sở kinh doanh hoặc thậm chí rút lui hoàn toàn khỏi thị trường tỷ dân này[81], trong khi khách du lịch và nhiều công ty du lịch Trung Quốc hủy các chuyến đi đến Hàn Quốc [82][83][84]. Tuy nhiên, vào cuối tháng 10 năm 2017, hai nước đã kết thúc cuộc tranh chấp ngoại giao kéo dài gần 1 năm và đã nhanh chóng nỗ lực để đưa mối quan hệ giữa hai chính phủ trở lại đúng hướng, kể từ đó, tất cả các lệnh cấm vận về kinh tế và văn hóa của Trung Quốc đối với Hàn Quốc cũng được dỡ bỏ, cùng với đó là sự hợp tác về chính trị, an ninh, kinh tế và trao đổi văn hóa giữa hai nước đã dần trở lại trạng thái bình thường.

Vào ngày 29 tháng 11 năm 2010, tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bị rò rỉ bởi Wikileaks đã đề cập đến nội dung của một cuộc trò chuyện giữa hai quan chức Trung Quốc ẩn danh với Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Chun Yung-woo. Trong cuộc trò chuyện, hai quan chức này đã tuyên bố rằng chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẵn sàng ủng hộ một bán đảo Triều Tiên thống nhất dưới quyền chính phủ miền Nam, miễn là chính quyền này không thù địch với Trung Quốc[85].

Một cuộc khảo sát được công bố vào năm 2019 bởi Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy 63% người Hàn Quốc có quan điểm tiêu cực về Trung Quốc [86].

Việt Nam

Sau năm 1975, cùng với những sự khác biệt về quan điểm chính trị kết hợp với hàng loạt chính sách bao vây, cấm vận từ phía Mỹ, quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng trở nên khó khăn. Vào đầu năm 1980, khi Mỹ bắt đầu nới lỏng chính sách cấm vận vì lý do thiếu lương thực phục vụ cho quân đội trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mối quan hệ này đã dần được cải thiện đáng kể, hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc thời bấy giờ chủ yếu là gạolúa. Cho đến năm 1990, khi Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa thì mối quan hệ này đã dần tốt hơn, đồng thời, sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Hàn Quốc thì chính phủ Hàn Quốc ngay sau đó đã cùng với các doanh nghiệp nước này ào ạt tiến hành đầu tư vào Việt Nam, xuất phát từ cơ sở hạ tầng, giáo dục, thành lập các công ty liên doanh Việt-Hàn, cho đến hợp tác phát hành, xuất khẩu và truyền bá rộng rãi các thể loại phim ảnh, chương trình truyền hình, âm nhạc, văn hóa... vào thị trường Việt Nam. Tới đầu năm 1996, ngôi trường được Hàn Quốc đầu tư 100% vốn tại Việt Nam đầu tiên đã được khánh thành nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ hữu nghị Việt - Hàn.

Việt Nam còn biết đến là một quốc gia Đông Nam Á gần gũi nhất với Hàn Quốc bởi nét đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán, ngày lễ cũng như các hoạt động dân dã, ngoài ra, người Việt cũng có tính cách quyết tâm, cố gắng phấn đấu, chịu khó và ham học hỏi - điều mà mỗi dân tộc Á Đông đều quý trọng đặc biệt là Hàn Quốc - quốc gia luôn có quan niệm cứng rắn trong việc xây dựng chính sách kinh tế theo đường lối khắc khổ, đề cao sự tự cường, tự lực, tận tâm và cống hiến.

Ngoài ra, ban đầu; hình ảnh, văn hóa, thời trang, lối sống kiểu Hàn Quốc còn thâm nhập, truyền bá nét đặc trưng của mình vào cuộc sống của người Việt (đặc biệt là thế hệ trẻ) một cách mạnh mẽ và sâu rộng, nhưng sau đó; chính phía Hàn Quốc lại có chiều hướng bị hình ảnh Việt Nam chinh phục, ví dụ nhiều người Hàn như sinh viên, doanh nhân, nghệ sĩ (đặc biệt là tầng lớp những người trẻ tuổi) đều chọn Việt Nam làm điểm đến để du lịch, sinh sống và khởi nghiệp lâu dài, ngoài ra, các giá trị văn hóa nghìn năm của người Việt, nét đặc trưng lâu đời cũng là một khía cạnh quan trọng mà phía Hàn Quốc còn phải học hỏi thêm từ phía Việt Nam để cải thiện văn hóa của chính mình ngày càng tốt hơn nữa.

Tính đến năm 2018, Việt Nam đã đón tổng cộng 3.485.406 lượt khách Hàn Quốc sang du lịch, con số này chỉ đứng sau khách Trung Quốc (4.966.468 khách du lịch). Các chuyến bay từ Việt Nam đến Hàn Quốc chiếm 44,5% lưu lượng truy cập ra nước ngoài trong năm 2018. Ngược lại, bên phía Hàn Quốc, Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà LạtHội An là những điểm đến hàng đầu mà khách du lịch nước này lựa chọn muốn ghé thăm khi đến Việt Nam. Từ năm 2011 đến nay, Hàn Quốc luôn giữ vững ngôi vị là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Năm 2017, tổng kim ngạch thương mại hai nước đạt 64 tỷ USD, nhờ đó, phía Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Hàn Quốc. Ngược lại, Hàn Quốc cũng là bạn hàng thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam. Hàn Quốc đứng thứ 2 về lượng vốn hỗ trợ ODA cho Việt Nam chỉ đứng sau Nhật Bản. Quy mô trao đổi thương mại giữa Việt Nam - Hàn Quốc chiếm hơn 40% tổng quy mô trao đổi thương mại giữa Hàn Quốc và các nước ASEAN. Theo những số liệu thống kê từ các cơ quan truyền thông và chuyên gia kinh tế thì Samsung của Hàn Quốc là tập đoàn có đóng góp nhiều nhất vào tổng quy mô GDP của Việt Nam trong năm 2018 với 28%[87].

Hoa Kỳ

 
Tổng thống Moon Jae-in cùng Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại Nhà Trắng vào ngày 30 tháng 6 năm 2017.

Mối quan hệ đồng minh chiến lược, chặt chẽ giữa hai nước được bắt đầu từ ngay sau Thế Chiến II, sau khi phát xít Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Theo quyết định của Hội nghị Yalta, Hoa Kỳ đã tạm thời tiếp quản miền nam bán đảo Triều Tiên trong vòng ba năm (trong khi đó Liên Xô tiếp quản miền Bắc). Năm 1948, với sự ủng hộ của Mỹ, Lý Thừa Vãn đã thành lập nên nhà nước Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc). Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, quân đội Hoa Kỳ đã được gửi đến để giúp đỡ nhà nước Hàn Quốc non trẻ chống lại các cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên. Sự tham chiến của Hoa Kỳ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn thất bại gần như chắc chắn của Hàn Quốc trước quân đội Bắc Triều Tiên. Sau Chiến tranh, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục duy trì một số lượng rất lớn các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Hàn Quốc. Tại hội nghị thượng đỉnh G20 năm 2009 tại thủ đô Luân Đôn, Vương quốc Anh, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng: Hàn Quốc – là "một trong những đồng minh thân cận nhất và cũng là một trong những người bạn tuyệt vời nhất của Hoa Kỳ"[88]. Hàn Quốc hiện là một trong những đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng của Hoa Kỳ cùng với các quốc gia: Argentina, Australia, Bahrain, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kuwait, Maroc, New Zealand, Philippines, và Thái Lan.

Nhân khẩu

 
Những người phụ nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok.

Vào tháng 4 năm 2016, dân số Hàn Quốc được Văn phòng Thống kê Quốc gia ước tính là khoảng 50,8 triệu người, với dân số ở trong độ tuổi lao động và tổng tỷ suất sinh tiếp tục có xu hướng suy giảm [89][90]. Hàn Quốc là nước có mật độ dân số rất cao, ước tính lên tới 505 người trên mỗi km vuông vào năm 2015 [90], nhiều hơn 10 lần so với mức trung bình toàn cầu. Hầu hết người Hàn Quốc sống ở khu vực thành thị, do quá trình di cư ồ ạt khỏi các vùng nông thôn trong quá trình mở rộng kinh tế nhanh chóng của đất nước trong những năm 1970, 1980 và 1990 [91]. Thành phố thủ đô là Seoul cũng là thành phố lớn nhất và là trung tâm công nghiệp chính của đất nước. Theo điều tra dân số năm 2005, khu vực nội thành Seoul có dân số hơn 10 triệu người. Khu vực đô thị Seoul có hơn 30 triệu dân (khoảng hơn một nửa dân số Hàn Quốc), trở thành khu vực đô thị lớn thứ hai thế giới. Các thành phố lớn khác bao gồm Busan (3,5 triệu), Incheon (3,0 triệu), Daegu (2,5 triệu), Daejeon (1,4 triệu), Gwangju (1,4 triệu) và Ulsan (1,1 triệu).[92]

Trong thành phần dân cư Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số. Dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoa. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á năm 1997, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia sớm khắc phục được khủng hoảng, vì vậy mà một số lượng lớn lao động từ các nước châu Á khác (như Trung Quốc, Philippines, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia, Myanmar, Lào, Campuchia, Đông Timor,...) cũng như từ các nước thuộc khu vực châu Phi đã đổ về đây để tìm kiếm việc làm trong các bộ phận tại những nhà máy công nghiệp nặng lớn. Một bộ phận không nhỏ người Hoa Kỳ, Anhngười Pháp cũng đang sống và làm việc tại Hàn Quốc, họ tập trung tại một khu vực của thành phố Seoul, ví dụ như một khu phố kinh doanh trung tâm có tên là động Itaewon (Lê Thái Viện). Ở đây người ta cũng có thể tìm thấy một khu "Làng Liên hiệp quốc" bên cạnh rất nhiều đại sứ quán và các công ty nước ngoài.

Ngược lại cũng có rất nhiều người Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên hiện đang sinh sống tại nước ngoài, ví dụ như tại Trung Quốc và nhiều nước thuộc vùng Trung Á (nguyên nhân là do nhà độc tài Liên Xô cũ Iosif Vissarionovich Stalin đã đưa hàng ngàn người Triều Tiên tới đó trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt, Trung Quốc Đại Lục và chính tại Hàn Quốc là nơi có đông đảo cộng đồng người đào tẩu Bắc Triều Tiên đang lao động, sinh sống, làm việc). Trong thời kỳ bị Nhật đô hộ, một số người cũng đã bị đưa sang Nhật Bản. Sự bất ổn về chính trị, xã hội và kinh tế trong nước đã dẫn tới việc nhiều người Hàn Quốc đã di cư sang châu Âu, Nhật Bản, Canada, NgaHoa Kỳ. Từ khi tình hình trong nước trở lại ổn định, một số đã trở về lại quê hương và mang cho mình hai quốc tịch, những người gốc Hàn (Hàn Kiều) nổi tiếng trên thế giới có thể kể đến như là: Son Masayoshi - Tỷ phú, doanh nhân, lập trình viên, nhà phát minh, nhà đầu tư, nhà kinh tế học, nhà sáng lập và đồng thời là tổng giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn viễn thông đa quốc gia Nhật Bản SoftBank, chủ tịch đương nhiệm của Sprint CorporationSoftBank Mobile, nhà từ thiện nổi tiếng - người giàu nhất Nhật Bản[93][94][95] và bản thân ông cũng là một trong những Hàn Kiều, nhà đầu tư nổi tiếng và quyền lực nhất trên thế giới nói chung cũng như trong giới công nghệ nói riêng theo đánh giá và xếp loại của tạp chí Forbes danh tiếng[96]; Taizo Son - Tỷ phú, doanh nhân, nhà đầu tư người Nhật gốc Hàn, CEO của Mistletoe Inc., chủ tịch của công ty game di động GungHo Inc. - em trai của Masayoshi Son[97][98]; Dr. Jim Yong Kim - Giáo sư y khoa, trưởng khoa Y tế toàn cầu và Y khoa xã hội tại trường Đại học Y trực thuộc Viện Đại học HarvardWHO, hiệu trưởng thứ 17gốc Á đầu tiên của trường Đại học Dartmouth, cựu Chủ tịch của World Bank[99]nhóm Ivy League; Randall Park - Nam diễn viên điện ảnh kiêm nhà biên kịch phim nổi tiếng người Mỹ gốc Hàn Quốc[100]; Sung Kim - nhà ngoại giao người Mỹ gốc Hàn Quốc và Đại sứ Hoa Kỳ hiện tại tại Philippines cũng như cựu Đặc phái viên, người đại diện đặc biệt của Hoa Kỳ về Chính sách Bắc Triều Tiên[101], John Cho - diễn viên điện ảnh Hollywood[102][103] nổi tiếng[104], Kogonada - Nhà làm phim tài năng người Mỹ gốc Hàn (nổi tiếng với bộ phim điện ảnh chính kịch/lãng mạn Columbus (2017)[105][106][107][108][109][110][111]), Sung Kang, diễn viên nổi tiếng (đóng vai Han Lue trong loạt phim bom tấn The Fast and the Furious), Juju Chang - một nhà báo nổi tiếng, MC chính của kênh truyền hình tin tức ABC News (Úc), Margaret Cho - diễn viên hài kịch, Herbert Choy - Cựu thẩm phán Tòa án Tối cao Liên bang Hoa Kỳ, Jay Park - Rapper, Dancer, ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, vũ công, biên đạo múa, doanh nhândiễn viên người Mỹ gốc Hàn Quốc, David Chang - Đầu bếp, doanh nhân, tác giả sách và là một ngôi sao truyền hình thực tế nổi tiếng, Steven Choi - Chính trị gia hàng đầu về chính sách thuộc Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ, Paull Shin - Chính trị gia, thành viên, cựu Chủ tịch của Thượng viện tiểu bang Washington, người Mỹ gốc Hàn đầu tiên từng được bầu vào cơ quan lập pháp của bang Washington, Judy Joo, nhà văn, đầu bếp, doanh nhân, ngôi sao truyền hình thực tế, giám khảo của chương trình Iron Chef UK,...

Tỷ lệ sinh của Hàn Quốc là thấp nhất thế giới trong năm 2009 [112]. Nếu tỷ lệ này tiếp tục được duy trì, dân số của Hàn Quốc dự kiến sẽ giảm 13% xuống còn 42,3 triệu người vào năm 2050 [113]. Tỷ lệ sinh trung bình hàng năm của Hàn Quốc là khoảng 9 ca sinh trên 1000 người [114][115]. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh đã tăng 5,7% kể từ năm 2010 và Hàn Quốc không còn là quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới [116]. Theo báo cáo năm 2011 từ The Chosun Ilbo, tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc (1,23 trẻ em sinh ra trên mỗi phụ nữ) cao hơn so với Đài Loan (1,15) và Nhật Bản (1,21) [117]. Tuổi thọ trung bình của người dân Hàn Quốc trong năm 2008 là 79,10 tuổi (đứng thứ 34 trên thế giới) [118] nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 81 tuổi [119]. Hàn Quốc là nước có sự sụt giảm mạnh nhất về dân số ở độ tuổi lao động trong số các quốc gia thuộc OECD [120][121][122]. Năm 2015, Cục Thống kê Quốc gia ước tính rằng dân số của đất nước sẽ đạt đến đỉnh điểm vào năm 2035[89].

Áp lực cuộc sống và nạn tự sát

Xã hội Hàn Quốc hiện đại tạo nên những áp lực rất lớn trong cuộc sống, từ học tập, thi cử tới kiếm việc làm, kết hôn...[123][124][125][126] Do các áp lực này, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc thuộc mức rất cao trên thế giới. Năm 2012, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc là 28,9 vụ/100.000 dân, cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung Quốc và cao hơn 2,5 lần so với mức trung bình trên toàn thế giới. Tự sát là nguyên nhân số một trong những ca tử vong của thanh thiếu niên (từ 10 tới 30 tuổi).[127][128][129]

Hiện nay, ngày càng có nhiều người già Hàn Quốc đang phải sống và qua đời trong cô độc[130][131][132]. Những biến động ở Hàn Quốc từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990 khiến nhiều người mất việc, và họ bị tụt lại trong sự cạnh tranh gay gắt trong xã hội. Nhiều người cao tuổi không có tiền tiết kiệm khi về hưu trong khi con cái lại không đủ khả năng chu cấp cho họ. Trợ cấp xã hội dành cho những người ngoài độ tuổi 50 chỉ ở mức tương đối thấp[133]. Chỉ số Hưu trí toàn cầu Mercer Melbourne 2015 xếp hạng Hàn Quốc đứng thứ 24 trong 25 quốc gia có nền kinh tế lớn, chỉ cao hơn Ấn Độ. Năm 2014, chỉ 45% người Hàn Quốc trong độ tuổi từ 55 đến 79 có lương hưu và chi tiêu trung bình hàng tháng của họ là 431 USD, bằng 82% mức chi phí sinh hoạt tối thiểu cho một người. Khoảng 30% người cao tuổi Hàn Quốc có thu nhập hàng tháng dưới mức nghèo tuyệt đối. Cứ 4 người cao tuổi Hàn Quốc lại có một người mắc chứng trầm cảm, tỷ lệ tự sát của nhóm người cao tuổi cao gấp đôi so với mức trung bình cả nước.[134]

Hàn Quốc là nước xếp cao nhất trong các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và liên tục có số vụ tự sát thuộc hàng đầu trong các nước phát triển. Nhà ga tàu điện ngầm ở Seoul đã phải dựng hàng rào chắn để ngăn người nhảy xuống lúc tàu đến và, 8 cây cầu trong thành phố đều lắp đặt dày đặc các hệ thống camera nhằm phát hiện nhanh người có ý định tự sát. Quốc gia này là nơi thường xuyên diễn ra các vụ tự tử của sinh viên, ca sĩ, người mẫu, diễn viên, vận động viên thể thao, các chính trị gia và cả những người nổi tiếng, trong đó bao gồm vụ tự sát nổi tiếng của cựu tổng thống Roh Moo-hyun vào năm 2009.[135] Trong chưa đầy 4 tháng đầu năm 2011, bốn sinh viên và một giáo sư trường đại học Kaist - ngôi trường danh tiếng bậc nhất Hàn quốc - đã lần lượt tự sát.[136] Vào ngày 18 tháng 12 năm 2017, Kim Jong-hyun, giọng ca chính của nhóm nhạc Shinee, đã tự tử ở tuổi 27, anh được các nhân viên y tế phát hiện trong tình trạng bất tỉnh sau khi gửi thư tuyệt mệnh cho em gái và sau đó được tuyên bố là đã qua đời trên đường đi đến bệnh viện. Vào ngày 21 tháng 1 năm 2018, nam diễn viên Jun Tae-soo đã tự tử ở tuổi 33, sau một thời gian chiến đấu với căn bệnh trầm cảm nghiêm trọng. Vào ngày 29 tháng 6 năm 2019, nữ diễn viên gạo cội Jeon Mi-seon tự tử không rõ nguyên nhân ở tuổi 48. Vào ngày 14 tháng 10 năm 2019, Sulli Choi, một nữ diễn viên và cựu thành viên của ban nhạc F(x), đã tự tử ở tuổi 25, nguyên nhân được xác định cũng là do trầm cảm. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2019, Goo Hara, một nữ diễn viên và cựu thành viên của ban nhạc Kara, đã tự tử ở tuổi 28, trước đó, cô đã cố gắng tự kết liễu cuộc đời mình một lần - vào ngày 26 tháng 5 năm 2019, nhưng được người quản lý phát hiện kịp thời và đưa đến bệnh viện.

Theo một chuyên gia về tâm thần học tại Đại học Quốc gia Seoul và cũng là thành viên trong Hiệp hội ngăn chặn tự sát ở Hàn Quốc, tự sát tập thể khá phổ biến ở nước này và có xu hướng tăng cao.[137] Tỷ lệ này tăng mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và tiếp tục tăng sau đó.[138] Trong vòng 5 năm trước 2007, tỉ lệ tự sát ở Hàn Quốc tăng gấp đôi.[139] Năm 2011, trước tình hình này, một số người đứng ra tổ chức những khoá học chết thử, với lý do "trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ". Mục đích của chương trình này là muốn người tham gia "nghĩ về cuộc sống và tận hưởng nó một cách có ý nghĩa hơn" thay vì tìm đến cái chết.[138]

Ở các gia đình có 2 vợ chồng cùng đi làm, đàn ông chỉ dành khoảng 40 phút làm việc nhà hoặc trông con, ít hơn so với phụ nữ là trung bình 3 giờ một ngày. Theo thống kê, số giờ làm việc trung bình của người Hàn Quốc là 2.113 giờ một năm, đứng thứ hai trong số các quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và chỉ xếp sau México. Tuy nhiên, nhiều cuộc khảo sát gần đây đã cho thấy thực tế còn tệ hơn và có xu hướng giống Nhật Bản, nơi thường xuyên có người lao động chết hoặc tự kết liễu bản thân do lao lực, stress và kiệt sức. Đã xuất hiện cụm từ mới phản ánh tình trạng này ở Hàn Quốc là "Kawarosa" (có nghĩa là chếtlàm việc quá sức trong tiếng Hàn).[140][141][142][143][144]

Hàn Quốc đã thực hiện Chiến lược ngăn ngừa tự tử (STOPS) nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng và sự hỗ trợ của chính phủ trong vấn đề phòng chống nạn tự sát[145]. Những biện pháp này đã đem lại hiệu quả rất tích cực, kể từ năm 2010, tỷ lệ tự tử ở Hàn Quốc đã giảm mạnh, cả hai thành phố lớn nhất của Hàn Quốc là Busan và Incheon đã thực hiện tích cực các chương trình ngăn ngừa tự tử. Việc cấm lưu hành một loại thuốc diệt cỏ mang nhiều thành phần chất chứa độc tính cao có tên gọi là Paraquat được coi là chìa khóa trong việc giảm mạnh tỷ lệ tự sát ở nơi đây. Từ khoảng năm 2011 đến 2015, tỷ lệ tử vong do tự tử ở Hàn Quốc đã giảm gần 15%, theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2017 cho biết. Ông Moon Jae-in - Tổng thống Hàn Quốc nhậm chức trong năm 2018, đã cam kết sẽ hạ thấp tỷ lệ tự tử xuống còn 20 vụ trên 100.000 người vào năm 2020[146].

Theo một loạt các cuộc khảo sát được tiến hành bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốcviện nghiên cứu Gallup vào năm 2019 cho kết quả: 82% người Hàn Quốc được hỏi đã trả lời rằng Hàn Quốc là một đất nước tuyệt vời đáng để sinh sống, 63.6% số người được hỏi trả lời rằng họ hài lòng với cuộc sống hiện tại. Theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2019 của Liên Hợp Quốc, Hàn Quốc là quốc gia hạnh phúc thứ 54 trên thế giới[147].

Kinh tế

 
Hyundai, một trong bốn tập đoàn đa ngành lớn (Big Four) của Hàn Quốc cùng với Samsung, LGSK.
 
Hàn Quốc hiện đang dẫn đầu thế giới về ngành công nghiệp bán dẫn.
 
Trụ sở chính của tập đoàn Samsung - Samsung Town, tọa lạc tại trung tâm thủ đô Seoul.

Hàn Quốc sở hữu một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (được xây dựng trên nền tảng của kinh tế thị trường), hỗn hợp, tự do, ít có sự can thiệp của chính phủphát triển cao bậc nhất Châu Á. Hiện nay Hàn Quốc đã được xếp vào nhóm những quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Cùng với các nền kinh tế của Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài LoanSingapore, kinh tế Hàn Quốc được các nhà kinh tế học xem như là một ví dụ tiêu biểu về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành.

Đầu những năm 1950, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèochâu Phichâu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 11 trên thế giới. Năm 2005 GDP danh nghĩa của Hàn Quốc ước đạt khoảng 789 tỉ USD, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) ước đạt khoảng 1.097 tỉ USD. Thu nhập bình quân đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt là 16.270 USD và 22.620 USD (xếp thứ 33 và 34 thế giới).

Kinh tế Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới từ đầu những năm 1960 cho đến cuối những năm 1990, và vẫn tiếp tục tăng trưởng đều đặn trong thập niên 2000, do đó Hàn Quốc cùng với các quốc gia và Đặc khu hành chính Hồng Kông, SingaporeĐài Loan thường được ví như "Bốn con Rồng của Châu Á".[148]

Năm 1997, như nhiều nước châu Á khác, Hàn Quốc bị khủng hoảng kinh tế nặng nề. Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ Hàn Quốc đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo: tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựng nền kinh tế thị trường, giảm bớt quyền lực của các nhà tài phiệt nắm giữ các tập đoàn lớn, coi trọng các công ty vừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chống câu kết chính trịkinh doanh. Mặt khác, chính phủ đã áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng", huy động quốc dân quyên góp tiền vàng ủng hộ chính phủ. Kết quả là Hàn Quốc đã thành công trong việc khắc phục khủng hoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000), trả xong nợ của IMF. Dự trữ ngoại tệ đã đạt 133 tỷ USD (tháng 7/2003). Hàn Quốc tiếp tục duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trong thập niên 2010, đạt mức từ 6,2% đến 8% trong năm 2010 [149], tuy vậy đến năm 2016 đã tụt xuống chỉ còn hơn 2,6%.

Từ những năm 1970, nhiều công ty, tập đoàn lớn của Hàn Quốc bắt đầu tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới. Những tập đoàn Tài phiệt khổng lồ (Chaebol), do các gia tộc kỹ nghệ đại tư bản (kế thừa và phát triển trực tiếp theo mô hình từ các tài phiệt của Nhật Bản) điều hành, kiểm soát, nắm trong tay quyền lực và khả năng chi phối nền kinh tế Hàn Quốc qua nhiều thế hệ có thể kể tới như Samsung, Hyundai, Kia, LG, Lotte, CJ, SK, Shinsegae hay Daewoo. Những quốc gia đang phát triển như Việt Nam mặc dù được đầu tư lớn nhưng trên thực tế mới chỉ được làm quen, tiếp cận với một vài lĩnh vực của các tập đoàn này. Ví dụ như ở Hàn Quốc, ngoài lĩnh vực chính là công nghệ, Samsung cũng rất năng động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chế tạo máy, thương mại điện tửbất động sản. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á, nhiều chi nhánh của các tập đoàn này ở nước ngoài đã bị đóng cửa. Một ví dụ điển hình là Daewoo, Chaebol từng một thời có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn mạnh bậc nhất đối với nền kinh tế xứ Hàn đã sụp đổ, phải tái cơ cấu và buộc phải bán bộ phận sản xuất xe hơi cho tập đoàn General Motors của Mỹ[150]. Ngoài những cái tên quen thuộc, phổ biến kể trên ra, Hàn Quốc còn là quê hương của một số thương hiệu nổi tiếng trên thế giới khác, có thể kể đến như: KT (viễn thông), Pantech (điện tử tiêu dùng), SsangYong, Genesis (xe hơi), Hanwha (bảo hiểm - tài chính), Posco (thép), Doosan, Kumho Asiana, Hyosung (công nghiệp), Hanjin (vận tải), Tous les Jours (thực phẩm), Shinhan (ngân hàng), Coupang[151] (thương mại điện tử), CGV (điện ảnh, kinh doanh cụm rạp chiếu phimdịch vụ giải trí),...

Tòa án Tối cao Hàn Quốc đã tiến hành bắt giữ và truy tố hơn 100 người, trong đó có một cựu quan chức nhà nước hàng đầu trong vụ tham nhũng trong một vụ bê bối trên xác nhận an toàn giả mạo cho các bộ phận trong lò phản ứng hạt nhân của mình. Nền kinh tế lớn thứ tư của châu Á đã phải từng phải ngừng hoạt động một loạt các lò phản ứng hạt nhân do các tài liệu giả mạo vào cuối năm 2012. Ngành công nghiệp hạt nhân của Hàn Quốc đã bị chỉ trích vì hoạt động của nó diễn ra rất bí ẩn, dẫn đến nạn tham nhũng của các quan chức liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận an toàn. Do các nhà máy hạt nhân này sản xuất một phần ba lượng điện năng của Hàn Quốc nên các quan chức cho biết họ sẽ chỉ kiểm tra và thay thế các bộ phận, chứ không phải là loại bỏ dần chúng[152]. Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn là quốc gia sản xuất điện hạt nhân đứng thứ năm trên thế giới tính đến năm 2010.[153]

Giao thông

 
Hàn Quốc đã phát triển thành công tàu cao tốc HEMU 430X, có thể di chuyển với tốc độ hơn 430 km/giờ (267 dặm/giờ), qua đó đã đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia thứ tư trên thế giới sau Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc phát triển được loại tàu cao tốc có thể chạy với vận tốc lên tới hơn 420 km/giờ trên đường ray thông thường.

Chính phủ và người dân Hàn Quốc qua nhiều năm đã xây dựng và hoàn thiện thành công một mạng lưới giao thông tiên tiến, tinh vi và hiện đại bao gồm có các tuyến đường sắt cao tốc, đường bộ cao tốc, xe buýt, dịch vụ phà và các tuyến đường hàng không trải dài khắp đất nước. Korea Expressway Corporation là tập đoàn vận hành hệ thống đường cao tốc thu phí và các tiện nghi dịch vụ trên đường. Korail điều hành hệ thống đường sắt tại tất cả các thành phố lớn của Hàn Quốc. Hai tuyến đường sắt là Tuyến Gyeongui và Tuyến DongHae-Bukbu đi Bắc Triều Tiên hiện đang được kết nối lại. Hệ thống đường sắt cao tốc của Hàn Quốc, KTX, cung cấp dịch vụ đường sắt tốc độ cao dọc theo các tuyến GyeongbuHonam. Cả sáu thành phố lớn nhất của Hàn Quốc - Seoul, Busan, Daegu, Gwangju, DaejeonIncheon - đều có hệ thống tàu điện ngầm. Hệ thống xe buýt tốc độ cao cũng có mặt ở hầu hết các thành phố trên cả nước.[154]

 
Tàu cao tốc KTX tại Hàn Quốc.

Sân bay lớn nhất của Hàn Quốc là Sân bay quốc tế Incheon, phục vụ trên 60 triệu hành khách trong năm 2016 [155]. Các sân bay quốc tế khác bao gồm có: Gimpo, Busan và Jeju. Hãng hàng không quốc gia, Korean Air đã phục vụ tổng cộng hơn 30 triệu hành khách, trong đó bao gồm gần 20 triệu hành khách quốc tế trong năm 2016 [156]. Hãng hàng không lớn thứ hai, Asiana Airlines cũng phục vụ các chuyến bay trong nước và quốc tế. Các hãng hàng không nhỏ hơn, chẳng hạn như Jeju Air, cung cấp dịch vụ bay nội địa với giá vé thấp hơn.[157]

Du lịch

 
Cảnh Phúc cung tại Seoul, một địa điểm thu hút khách du lịch.

Trong năm 2016, Hàn Quốc đã đón tổng cộng trên 17 triệu lượt khách du lịch tới từ nước ngoài [158], trong đó có 167.143 tới từ Việt Nam, xếp thứ 9 trong số tất cả các quốc gia.

Ngành du lịch Hàn Quốc được phát triển, quảng bá và thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự phổ biến của nhạc K-pop và phim truyền hình Hàn Quốc, đặc biệt là tại khu vực Đông ÁĐông Nam Á (Làn sóng Hàn Quốc), văn hóa truyền thống, ẩm thựccảnh quan môi trường tự nhiên.

Văn hóa

Ngôn ngữ và chữ viết

 
Chữ Hangul ban đầu có tên gọi là Hunmin jeong-eum.

Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên). Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào ngữ hệ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập (Language Isolate). Kể từ bậc tiểu học, các giáo viên bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này, tiếng Trung Quốctiếng Nhật cũng trở thành các ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu khác như tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Ngatiếng Tây Ban Nha thì ít phổ biến hơn và thường được giảng dạy trong các trường Đại học.

Khác với chữ viết của các nước vùng Đông Á, Hangeul - chữ viết chính của người Hàn Quốc – sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 ký tự, 24 ký tự đơn và 27 ký tự kép. Những ký tự này được kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Đối với những người không biết thì chữ Triều Tiên cũng phức tạp y như chữ Hán vậy. Nhưng thực ra người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì lẽ đó mà chữ Hangeul được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng – trong một buổi sáng là có thể học xong).

Hanja, bộ chữ Hán của người Triều Tiên, có ý nghĩa tương tự như chữ La tinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông ÁĐông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được ý nghĩa dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Trên các tấm danh thiếp người ta cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa tên của họ.

Trong thập niên 2000 của thế kỉ 21, những tín đồ Hồi giáo tại Hàn Quốc đã tiếp nhận thêm bảng chữ cái Ả rập và biến đổi lại để ghi âm tiếng Hàn gọi là Kuryan (tương tự như chữ Jawi (Jawi alphabet) của người Mã Lai). Hệ chữ này sử dụng văn tự Ả rập để ghi âm tiếng Hàn, phục vụ trong hoạt động giao tiếp và truyền bá trong cộng đồng người Hồi giáo tại Hàn Quốc.

Văn học

Văn học Hàn Quốc có một số lượng lớn độc giả. Những buổi đọc sách thậm chí còn được tổ chức tại các sân vận động.

Hwang Sok-Yong (sinh năm 1943) là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất xứ Hàn. Ông đã trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên và từng tham chiến tại chiến tranh Việt Nam. Đề tài chính trong các tác phẩm của ông là những mâu thuẫn giữa hai thái cực truyền thốnghiện đại.

Tôn giáo

 

Tôn giáo tại Hàn Quốc (2015)[2]

  Không tôn giáo (56.9%)
  Tin lành (19.7%)
  Phật giáo (15.5%)
  Công giáo Roma (7.9%)

Theo số liệu thống kê đến năm 2005 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 46% của công dân cho biết không theo tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc chiếm 29,2% dân số (trong số đó là đạo Tin Lành 18,3%, Công giáo 10,9%) và 22,8% là Phật tử[159]. 1% là tín đồ đạo Khổng, 1% còn lại theo các tôn giáo khác.

Tại Hàn Quốc có khoảng 45.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số hơn 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo[160]. Hàn Quốc cũng là quốc gia có dân số theo đạo Công giáo đông thứ năm ở châu Á (sau Philippines, Ấn Độ, Trung QuốcIndonesia).

Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này vấp phải sự phản đối kịch liệt của hơn 100.000 tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va. Những nghi lễ cổ truyền vẫn còn được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng hiện nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày của người dân xứ Hàn.

Ẩm thực

 
Bibimbap - Cơm trộn
 
Phương pháp lên men từ đậu tương.

Hàn Quốc nổi tiếng nhất với món kim chi, đây là một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là bắp cải. Kim chi là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitaminchất dinh dưỡng cần thiết. Gochujang (một loại nước xốt truyền thống Hàn Quốc làm từ ớt đỏ) rất thông dụng, cũng như tương tiêu (hoặc ớt), là những món điển hình của nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.

Bulgogi (thịt nướng tẩm gia vị, thường là thịt bò), galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng) và món samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. cũng là một thực phẩm phổ biến, vì nó là loại thịt truyền thống mà người Hàn Quốc hay dùng. Bữa ăn thường đi kèm với xúp hoặc món hầm, chẳng hạn như galbitang (xương sườn hầm) và doenjang jjigae (canh xúp đậu lên men). Giữa bàn ăn là đủ loại món ăn phụ gọi là banchan.

Các món ăn phổ biến khác gồm bibimbap - có nghĩa là "cơm trộn" (cơm trộn với thịt, rautương ớt đỏ) và naengmyeon (mì lạnh). Ngoài ra, mì ăn liền cũng là một loại thức ăn nhanh rất phổ biến. Người Hàn Quốc cũng thích dùng các loại thức ăn từ pojangmachas (bán dạo trên đường phố), ở đây người ta có thể mua tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước xốt gochujang cay), khoai tây chiên mựckhoai lang tẩm. Soondae là loại một xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và huyết lợn cũng được rất nhiều người ưa thích.

Ngoài ra, một số món ăn nhẹ phổ biến khác bao gồm chocopie, bánh tôm, bbungtigi (bánh gạo giòn) và "nu rung ji" (cơm cháy nhẹ). Có thể ăn sống nu rung ji hoặc đun sôi với nước để tạo ra một món canh. Nu rung ji cũng có thể được dùng như một món ăn nhanh hay món tráng miệng.

Các loại đồ uống có cồn phổ biến của Hàn Quốc bao gồm Soju, Makgeolli và Bokbunja ju, đặc biệt, người Hàn còn hay pha rượu Soju với bia tươi hoặc sữa chua để tăng độ mạnh cho loại thức uống truyền thống này.

 
Đũa của người Hàn Quốc thường được làm bằng thép không gỉ (inox), hoặc bằng bạc, vàng (loại này thường hay phổ biến hơn ở các gia đình giàu có).

Không giống như phần lớn người dân ở các nước châu Á khác, người Hàn Quốc khi ăn thường sử dụng đũa kim loại thay vì đũa gỗ truyền thống.

Âm nhạc

K-Pop

 
Ban nhạc Super Junior đang biểu diễn.

K-Pop (viết tắt của Korean Pop hay nhạc Pop Hàn Quốc) là dòng nhạc Pop ở Hàn Quốc, ban đầu chịu sự ảnh hưởng của J-Pop (Pop Nhật). Nhờ sự quảng bá mạnh mẽ của truyền thông mà K-Pop đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thu hút hàng chục triệu người hâm mộ cuồng nhiệt cũng như lực lượng hùng hậu các Fan trung thành không chỉ ở riêng khu vực Đông Á và Đông Nam Á, mà còn cả ở Nam Á, Mỹ Latinh, Bắc Phi, Nam Phi, Trung Đông và khắp thế giới phương Tây, trở thành một hiện tượng giải trí toàn cầu[161]. Năm 2012, người Hàn tiếp tục gây sốt trên thế giới với điệu nhảy ngựa trong ca khúc Gangnam Style của ca sĩ PSY, đạt hơn 3 tỷ lượt xem trên Youtube. Vào ngày 12 tháng 4 năm 2019, bài hát "Boy with Luv" của ban nhạc BTS đã lập kỷ lục khi trở thành MV ca nhạc đạt số lượng view và like cao nhất trên Youtube sau 24 giờ phát hành, với hơn 74 triệu lượt xem chỉ trong vòng một ngày[162]. Cùng với điện ảnh, K-Pop gây nên một cơn sốt đặc biệt lớn đối với giới trẻ Việt Nam, đi kèm theo đó là một số hệ lụy.

SM Entertainment, YG EntertainmentJYP Entertainment là ba công ty lớn nhất trong ngành công nghiệp giải trí tại Hàn Quốc, thường được gọi chung là "Big Three". Các hãng thu âm này chịu trách nhiệm phát hiện tài năng, tuyển dụng, tài trợ, đào tạo và lăng xê cho những nghệ sĩ trực thuộc, ngoài ra họ còn quản lý mọi hoạt động liên quan đến âm nhạc, đảm nhận, phụ trách thương hiệu và quan hệ công chúng của các nghệ sĩ. Hệ thống quản lý nghệ sĩ mặc dù rất chuyên nghiệp, chi tiết nhưng lại quá nghiêm ngặt, khắt khe và áp lực của nhiều công ty giải trí tại Hàn Quốc đã bị một số tờ báo phương Tây đánh giá là "cực đoan"[163], thậm chí đài BBC của Anh đã sử dụng cụm từ "hợp đồng nô lệ" để nói về hệ thống này[164].

Hầu hết các sáng kiến ​​của chính phủ nhằm mở rộng sự phổ biến của K-pop trên toàn thế giới được thực hiện bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đây là cơ quan chịu trách nhiệm chính cho việc thành lập các Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc trên toàn thế giới. Các đại sứ quán và lãnh sự quán Hàn Quốc cũng đứng ra tổ chức các buổi hòa nhạc K-pop ở nước ngoài, và Bộ Ngoại giao thường xuyên mời fan hâm mộ Kpop ở nước ngoài tham dự Liên hoan Thế giới K-Pop được tổ chức thường niên tại Hàn Quốc [165]. Ngoài việc gặt hái được những lợi ích kinh tế từ sự phổ biến của K-pop, chính phủ Hàn Quốc đã và đang tận dụng ảnh hưởng của K-pop trong vấn đề ngoại giao. Trong thời đại truyền thông đại chúng phát triển vũ bão như ngày nay, quyền lực mềm (Soft power) được coi là một chiến lược ngoại giao hiệu quả, tiềm năng và thực dụng hơn tương đối nhiều so với việc chỉ dựa vào quyền lực cứng (Hard power) truyền thống. Ngoại giao văn hóa thông qua K-pop là một hình thức của quyền lực mềm đang được chính phủ Hàn Quốc thực hiện rất thành công[166].

Noraebang - karaoke của Hàn Quốc

Trong tiếng Triều Tiên không có từ nghĩa tương đương với karaoke. Thay vào đó, họ gọi loại hình giải trí này là Norae (노래, tiếng hát). Các quán karaoke (노래방, Noraebang) được tìm thấy ở khắp các ngóc ngách trên những con phố. Cả thanh niên lẫn người lớn tuổi đều mê loại hình giải trí này.

Điện ảnh

Kể từ thành công của phim Shiri (1999) ngành công nghiệp điện ảnh ở xứ Hàn có sự thăng tiến không ngừng. Hiện nay Hàn Quốc là một trong số ít những nước mà các sản phẩm của Hollywood không có mấy sức ảnh hưởng. Điều này thể hiện qua việc tỉ lệ khán giả đến rạp xem phim trong nước cao hơn hẳn so với các tác phẩm điện ảnh nước ngoài.

Trong năm 2000, tiêu điểm đổ dồn vào bộ phim Vùng an ninh chung (Joint Security Area). Bộ phim kể về sự chia cắt Triều Tiên này thậm chí còn thành công hơn cả Shiri. Bạn (Friend) là bộ phim của năm 2001. Bộ phim hài lãng mạn Cô nàng ngổ ngáo (My Sassy Girl) còn được yêu thích hơn cả Chúa tể của những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings) hay Harry Potter. Năm 2004, bộ phim Old Boy giành giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes và được bán cho nhiều nước. Sau khi dự liên hoan phim này, đạo diễn Hollywood nổi tiếng Quentin Tarantino đã phát biểu: "Những bộ phim hay, hấp dẫn nhất thế giới hiện đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc".

Những thành công này khiến cho Hollywood phải chú ý. Những phim như Shiri giờ đây được bán ở cả Hoa Kỳ. Miramax đã mua bản quyền phim Vợ tôi là Gangster (My Wife is a Gangster), bộ phim còn trội hơn một số sản phẩm của Hollywood, và hiện đang làm lại bộ phim này để bán trên thị trường Mỹ. Những bộ phim nổi tiếng khác như My Sassy Girl, Old Boy hay A Tale of Two Sisters (Câu chuyện hai chị em) cũng đang nằm trong tầm ngắm của các nhà làm phim người Mỹ.

Bộ phim The Host - Quái Vật Sông Hàn (2006) và sau đó là bộ phim tiếng Anh Snowpiercer (2013) của đạo diễn điện ảnh Bong Joon-ho hay bom tấn Đại thủy chiến (2014) của đạo diễn Kim Han-mintài tử gạo cội Choi Min-sik đều là những tác phẩm điện ảnhdoanh thu cao nhất mọi thời đại ở Hàn Quốc và được các nhà phê bình phim nước ngoài ca ngợi (Đại thủy chiến là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên đạt mức doanh thu hơn 100 triệu USD)[167][168][169]. Bộ phim về đề tài xác sống Train to Busan (2016) của đạo diễn Yeon Sang-ho cũng là một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở quốc gia này và đã trở thành bộ phim có doanh thu cao thứ hai tại Hồng Kông năm 2016[170]. Trong lần trở lại gần đây nhất vào năm 2019, đạo diễn tài năng Bong Joon-ho đã cùng với "Ông hoàng phòng vé" Song Kang-ho[171][172] tiếp tục giúp cho nền điện ảnh xứ Kim Chi gây được tiếng vang lớn với bộ phim điện ảnh tâm lý xã hội - hài kịch đen mang tựa đề Parasite (Ký sinh trùng)[173], tác phẩm này sau đó đã xuất sắc đoạt giải thưởng Cành cọ vàng (Palme d'Or) tại Liên hoan phim Cannes 2019 (Pháp)[174], và chấn động nhất là Giải thưởng của Viện Hàn Lâm Khoa học và Nghệ Thuật Điện Ảnh Hoa Kỳ, một trong những giải thưởng điện ảnh danh giá nhất Hành tinh - Oscar 2020 đã xướng tên Parasite - Ký Sinh Trùng - chiến thắng 4 trên 6 đề cử, cùng với giải thưởng danh giá, quan trọng nhất - Best Picture, danh sách 4 hạng mục đoạt giải, bao gồm: Phim xuất sắc nhất, Phim Quốc tế xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất cho cá nhân đạo diễn Bong Joon-ho và Kịch bản Gốc xuất sắc nhất, đồng thời, Parasite - Ký Sinh Trùng cũng trở thành bộ phim có được nhiều giải thưởng nhất trong kỳ trao giải Oscar lần thứ 92 được tổ chức tại Mỹ, đây cũng là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên trong lịch sử giành được giải thưởng danh giá này, đặc biệt hơn, thành công của Ký sinh trùng đến đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm nền điện ảnh xứ Hàn ra đời và phát triển, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế vững chắc và tiên phong của điện ảnh Hàn Quốc trong làng điện ảnh châu Á nói riêng và thế giới nói chung[175][176].

Giống như ở nhiều nước châu Á khác, tại Việt Nam, phim Hàn Quốc cũng giành được sự ưu ái đặc biệt. Ngoài những tác phẩm điện ảnh được chiếu ngoài rạp, những bộ phim truyền hình dài tập của Hàn Quốc cũng thu hút một số lượng rất lớn khán giả. Một số series phim truyền hình nổi tiếng của Hàn Quốc có thể kể đến như: Những nàng công chúa nổi tiếng, Thợ săn thành phố, Vì sao đưa anh tới, Ngôi nhà hạnh phúc, Vườn sao băng, Gia đình là số một (phần 2) hay Hậu duệ mặt trời,...

Giáo dục

Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc bao gồm có sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và ba năm trung học phổ thông. Học sinh bắt buộc phải học tiểu học và trung học cơ sở nhưng không phải trả chi phí giáo dục, ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là "phí hỗ trợ các hoạt động của nhà trường". Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi xướng và chỉ đạo - hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ ba trên thế giới và cao hơn mức trung bình của OECD.[177][178]

Hàn Quốc cũng xếp thứ hai về toán họcvăn học, đứng thứ nhất về giải quyết vấn đề. Mặc dù học sinhsinh viên Hàn Quốc thường được xếp hạng cao trong các bài kiểm tra, cuộc thi kiến thức và so sánh quốc tế, tuy nhiên hệ thống giáo dục đôi khi bị lên án vì tập trung nhấn mạnh vào việc học thụ động và học thuộc lòng. Cũng giống như hệ thống giáo dục tại những quốc gia Đông Á láng giềng khác như Trung Quốc đại lục và Nhật Bản, hệ thống giáo dục, thi cử và tuyển sinh Đại học của Hàn Quốc khắt khe, khắc nghiệt, cạnh tranh và rập khuôn hơn hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước phương Tây. Ngoài ra, việc thành lập các trường tư độc lập với học phí cao (Hagwon (학원)) bị lên án như là một vấn đề lớn, nhức nhối của xã hội.[179]

Hàn Quốc thường tự hào vì nền công nghiệp giáo dục của mình. Nhưng rồi đất nước này lại đi hơi quá trớn với nó - với 407 trường cao đẳng và đại học được thành lập, kết quả là sinh viên tốt nghiệp quá nhiều khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Giáo dục đã trở thành một cổng tài chính làm tê liệt nền kinh tế lớn thứ tư châu Á. Việc học thêm và luyện thi đại học gây nợ nần cho các gia đình nhiều hơn 3 phần trăm của tổng sản phẩm trong nước và tất cả chỉ để tạo ra những "thanh niên thất nghiệp tuổi 20"[180]. Chính phủ đã đưa mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp cao vào danh sách các ưu tiên hàng đầu bằng cách đầu tư vào các công trình công cộng, nhưng chương trình này lại không quan tâm đến những người được đào tạo trẻ[181]. OECD cũng kêu gọi ngành công nghiệp tham gia đóng một vai trò xây dựng, thiết thực và hiệu quả hơn trong việc đào tạo trình độ nghề vì việc quá tập trung vào nhóm sinh viên, cử nhân tốt nghiệp từ các trường đại học đang khiến cho tỷ lệ cạnh tranh việc làm tăng cao nhưng lại xảy ra tình trạng thiếu hụt lao động trong lĩnh vực thủ công, gây ra một làn sóng công nhân nhập cư có tay nghề thấp.[182]

Khoa học và công nghệ

 
Trực chỉ, quyển sách cổ xưa nhất được tìm thấy được sử dụng phương pháp in thủ công dùng kim loại vào năm 1377 – hiện trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Bibliothèque, Paris, Pháp.

Một trong những hiện vật nổi tiếng trong lịch sử của Hàn Quốc về khoa họccông nghệChiêm tinh đài (첨성대, một đài quan sát cao 9,4 mét được xây dựng vào năm 634).

Mẫu bản in khắc gỗ Hàn Quốc xưa nhất còn sót lại là Kinh Đại bi tâm Đà la ni Mô cấu tinh quang đại[183], bản mẫu này được tin rằng đã được in tại Hàn Quốc vào khoảng những năm 750-751, nếu đúng như vậy thì bản in này còn nhiều tuổi hơn cả Kim Cương kinh. Cao Ly được người phương Tây đánh giá rất cao và đồ gốm Hàn Quốc cũng được săn đón, sưu tầm, gốm Cao Ly, đặc biệt là loại làm bằng gốm men ngọc, có màu xanh dương hoặc xanh lá là những loại gốm có chất lượng cao nhất và luôn được các thương gia Ả Rập săn lùng. Cao Ly đã có một nền kinh tế tấp nập với thủ đô thường xuyên được các thương gia từ khắp nơi trên thế giới ghé qua.

Trong thời kỳ Joseon những Geobukseon (tàu con rùa) đã được phát minh, sử dụng sàn gỗgai sắt,[184][185][186] cùng các loại vũ khí độc đáo khác như Phi kích thần thiên lôi (비격진천뢰, ) và hỏa xa.

Bảng chữ cái Hangul của Hàn Quốc cũng được vua Triều Tiên Thế Tông phát minh trong thời gian này.

Kể từ khi nền kinh tế của Hàn Quốc được công nghiệp hóa, nhiều tập đoàn công nghệ cao đã ra đời, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Samsung là công ty sản xuất điện thoại di động hàng đầu thế giới vào năm 2012.[187] Năm 2010, khoảng trên 90% người Hàn Quốc sở hữu ít nhất một chiếc điện thoại di động [188]. Hàn Quốc là nước có tốc độ đường truyền Internet nhanh nhất trên thế giới, với tốc độ tải xuống trung bình là 25,3 Mbit/s.[189] Năm 2018, Hàn Quốc đã chính thức trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thành công trong việc phổ cập và thương mại hóa thế hệ mạng di động thứ 5 (5G) thông qua các nhà mạng viễn thông lớn như SK Telecom, KT Corporation, SOFTBANK Korea Co., Ltd., Samsung Telecommunications,...[190][191][192][193][194][195]

Thể thao

Hàn Quốc có một nền thể thao tương đối mạnh ở châu Á và trên thế giới. Những môn thể thao thế mạnh, sở trường có thể kể đến như là:

Một số các cầu thủ, danh thủ bóng đá nổi tiếng: Cha Bum-kun, Ahn Jung-hwan, Park Ji-sung, Lee Chun-soo, Cha Doo-ri, Son Heung-min, Ki Sung-yueng, Koo Ja-cheol, Lee Chung-yong, Lee Jung-Soo, Park Chu-young, Lee Seung-woo, Hong Myeong-bo, Shin Tae-yong, Jo Hyeon-woo, Lee Kang-in,...

Bóng chày được du nhập vào Triều Tiên năm 1905 và sau đó đã trở thành một môn thể thao được nhiều người yêu thích và thường xuyên theo dõi ở Hàn Quốc.[199] Liên đoàn Bóng chày Hàn Quốc được thành lập năm 1982, là liên đoàn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc. Đội tuyển bóng chày Hàn Quốc đoạt giải 3 trong Giải Bóng chày Thế giới năm 2006, giải nhì trong năm 2009 và huy chương vàng tại Olympic Bắc Kinh 2008.[200]

Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988Seoul, quốc gia này được xếp hạng 4, với 12 huy chương vàng, 10 bạc và 11 đồng.[200] và cũng xuất sắc trong các môn như bắn cung, bóng bàn, cầu lông, trượt băng (Patinaje de velocidad sobre pista corta), bóng ném, hockey trên băng, đấu vật, bóng chày, judo, taekwondo, patincử tạ. Hàn Quốc cũng đoạt nhiều huy chương ở Thế vận hội Mùa đông so với các quốc gia châu Á khác. Tại Thế vận hội Mùa đông 2010Vancouver, các đội tuyển Hàn Quốc giành tổng cộng 14 huy chương (gồm 6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc) [200]. Năm 2018, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa đông 2018Pyeongchang và cũng là lần đầu tiên thế vận hội được tổ chức tại một vùng ngoại ô, đoàn thể thao Hàn Quốc đã đạt tổng số 17 huy chương (gồm 5 vàng, 8 bạc và 4 đồng).

Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức các kỳ Đại hội thể thao châu Á trong các năm 1986 (Seoul) và 2002 (Busan) và đã đăng cai tổ chức Đại hội này năm 2014 (Incheon).[201] Cũng đã đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Mùa đông châu Á 1999; và sự kiện thể thao liên minh các trường đại học Thế giới Universiade Mùa đông năm 1997 và Mùa hè năm 2003. Đồng đăng cai tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 với Nhật Bản, và đội bóng đá của Quốc gia này trở thành đội đầu tiên thuộc Liên đoàn bóng đá châu Á lọt vào vòng bán kết.[202]

Thể thao điện tử, hay còn gọi là E-Sports, đã trở nên rất phổ biến ở Hàn Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là trong giới trẻ, Hàn Quốc cùng với Trung Quốc, Đài Loan, khu vực Châu Âu và khu vực châu lục Bắc Mỹ hiện đang được coi là những khu vựcE-Sport phát triển mạnh mẽ, được đầu tư lớn, quy tụ nhiều tuyển thủ mạnh và có hệ thống tổ chức các giải đấu chuyên nghiệp nhất trên thế giới. Hai trò chơi được tranh tài nhiều nhất là League of Legends cùng với StarCraft và gần đây nhất là cái tên PUBG. Các giải đấu E-Sport tại Hàn Quốc được quản lý bởi Hiệp hội Thể thao điện tử Hàn Quốc (KeSPA). Những cái tên nổi tiếng của Hàn Quốc trong bộ môn này là Lim Yo-Hwan, Lee Sang-hyeok (còn được biết đến với nghệ danh Faker), Choi Yeon-Sung, Park Sung-JoonLee Jae-Dong,...[203]

Hàn Quốc còn là quốc gia rất mạnh về bộ môn Cờ Vây, với một loạt các danh thủ nổi tiếng thế giới như: Lee Sedol, Cho Nam-chul, Kim In, Cho Hun-hyun, Seo Bong-soo, Yoo Chang-hyuk, Lee Chang-ho, Park Yeong-hun hay Ki-Young Kim,...

Các ngày lễ

NgàyTên tiếng ViệtHangeulPhiên âm cách đọcGhi chú
1 tháng 1Tết Dương lịch양력설Yanglyeogseol
1 tới 3 tháng 1 (âm lịch)Tết Nguyên Đán설날Seollal
1 tháng 3Phong trào 1 tháng 33.1절Samil JeolKỷ niệm ngày đòi độc lập của nhân dân Hàn Quốc 1.3.1919
5 tháng 4Tết cây xanh식목일Singmogil
5 tháng 5Tết thiếu nhi어린이날Eorininal
8 tháng 4 (âm lịch)Lễ Phật Đản부처님 오신날Bucheonim OsinnalNgày sinh Đức Phật
6 tháng 6Ngày tưởng niệm현충일Hyeonchung-il
17 tháng 7Ngày lập hiến제헌절Jehyeonjeol17.7.1948
15 tháng 8Ngày độc lập광복절GwangbokjeolKỉ niệm ngày giành độc lập từ tay phát xít Nhật 15.8.1945
15 – 18 tháng 8 (âm lịch)Tết Trung Thu추석Chuseok
3 tháng 10Ngày khai sinh dân tộc개천절Gaecheonjeol
25 tháng 12Giáng sinh크리스마스Keuliseumaseu

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “A New Way of Seeing Country Social Responsibility” (PDF). Faculty of Philosophy and Social-Political Sciences (Alexandru Ioan Cuza University): 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  2. ^ a ă â South Korea National Statistical Office's 19th Population and Housing Census (2015): "Religion organizations' statistics". Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016
  3. ^ http://image.kmib.co.kr/online_image/2016/1219/201612191738_61220011145071_1.jpg
  4. ^ “Human Development Report 2015” (PDF). Liên hiệp quốc. 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015. 
  5. ^ “2015년 1월호 통계월보”. Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2015. 
  6. ^ "About Korea". Trang web quảng bá cho Hàn Quốc. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2015.
  7. ^ Ancient civilizations
  8. ^ http://www.opm.go.kr/warp/webapp/content/view?meta_id=english&id=35
  9. ^ “South Korea history - geography:: Economic and social developments”. Encyclopedia Britannica. Truy cập 18 tháng 2 năm 2015. 
  10. ^ http://www.korea.net/news/news/NewsView.asp?serial_no=20061127020&part=106&SearchDay=
  11. ^ “Japanese fans mob TV star in "Korea fever". Truy cập 18 tháng 2 năm 2015. 
  12. ^ “Những cô gái thề 'chết cũng không lấy chồng'. https://vnexpress.net/. 
  13. ^ “Thanh niên Hàn Quốc chật vật trong phân hóa giàu nghèo”. https://vnexpress.net/. 
  14. ^ “Tầng lớp 'thìa đất' tuyệt vọng trong xã hội Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  15. ^ “Sống trong những 'chiếc hộp' 5 m2 giữa Seoul”. https://vnexpress.net/. 
  16. ^ An Chi. Sông Hán và Hàn Quốc. Ngày 10 tháng 12 năm 2012.
  17. ^ a ă http://www.hanquochoc.edu.vn/cps/nghiencuu/kinhtekinhdoanh/2010/9/1.aspx
  18. ^ “[한국갤럽 여론조사] '나라 잘 이끈 대통령'에 국민 44% "박정희". news.kmib.co.kr. 
  19. ^ Plunk, Daryl M. "South Korea's Kwangju Incident Revisited." Asian Studies Backgrounder No. 35 (September 16) 1985: p. 5.
  20. ^ “Flashback: The Kwangju massacre”. BBC News. Ngày 17 tháng 5 năm 2000. 
  21. ^ "Two Decedes After Seoul Olympics". Korea Times. October 30, 2007.
  22. ^ “Hàn Quốc bắt khẩn cấp cựu Tổng thống Lee Myung-bak”. Truy cập 2 tháng 4 năm 2018. 
  23. ^ “Cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak bị kết án 17 năm tù”. 
  24. ^ a ă “Hàn Quốc trục xuất một Hàn kiều vì dám ca ngợi Triều Tiên”. Một Thế giới. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015. 
  25. ^ a ă CHOE SANG-HUN (10 tháng 1 năm 2015). “South Korea Deports American Over Warm Words for Trips to North” (bằng tiếng Anh). The New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017. 
  26. ^ a ă “South Korea to deport Korean-American accused of praising North” (bằng tiếng Anh). The Guardian. 9 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017. 
  27. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 230.
  28. ^ Michael Schuman (2009). The Miracle. The Epic Story of Asia’s Quest for Wealth. HarperCollins Publishers. New York. Tr. 36
  29. ^ http://www.vietdc.org/wp-content/uploads/2008/10/park-chung-hee-xay-de1bbb1ng-kinh-te1babf-de1baa1i-han.doc
  30. ^ Lie, Han Unbound, 73.
  31. ^ Woo, Race to the Swift, 132.
  32. ^ Michael Schuman (2009). Sđd. Tr. 31.
  33. ^ Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  34. ^ Korea: A Century of Change By Jürgen Kleiner
  35. ^ a ă http://news.donga.com/3/all/20080702/8597259/1
  36. ^ http://en.asaninst.org/contents/issue-brief-no-53-a-perspective-on-koreas-participation-in-the-vietnam-war/
  37. ^ “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. American Studies Association. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012. 
  38. ^ http://tuanbaovannghetphcm.vn/chuyen-nguoi-chuyen-ta/
  39. ^ Stewart Peter Lone and Gavan McCormack, Korea since 1850 (Melbourne, Australia: Longman, 1994), 148.
  40. ^ T. W. Kang, Is Korea the Next Japan? Understanding the Structure, Strategy, and Tactics of America’s Next Competitor (New York: The Free Press, 1989), cited in Byoung-lo Philo Kim, Two Koreas in Development: A Comparative Study of Principles and Strategies of Capitalist and Communist Third World Development, (New Brunswick, NJ: Transaction, 1992), 193.
  41. ^ Inglehart, Ronald & Christian Welzel (2009). How Development Leads to Democracy. “Foreign Affairs”, March/ April.
  42. ^ http://cks.inas.gov.vn/index.php?newsid=491
  43. ^ Society under Park- U.S. Library of Congress
  44. ^ “Cao tốc Gyeongbu - biểu tượng ý chí của người Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  45. ^ a ă Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 244.
  46. ^ Eichengreen, et al., From Miracle to Maturity, 44–45.
  47. ^ a ă â “chaebol”. Merriam-Webster. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2011. 
  48. ^ a ă Jung, Dong-Hyeon (ngày 1 tháng 8 năm 2004). “Korean Chaebol in Transition”. Sage 40 (3): 299–303. doi:10.1177/000944550404000306. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2013. 
  49. ^ http://www.ey.com/Publication/vwLUAssets/EY-G20-country-report-2013-South-Korea/$FILE/EY-G20-country-report-2013-South-Korea.pdf
  50. ^ Moskalev, Sviatoslav,; Park, Seung Chan (2010). “South Korean Chaebols and Value-Based Management”. Journal of Business Ethics 92: 49–62. doi:10.1007/s10551-009-0138-5. 
  51. ^ Coverage of Roh Moo-hyun campaign financing scandal: Donald Macintyre (1 tháng 12 năm 2003). “Losing Face”. Time. 
  52. ^ Hyondok Choi (2011). Sđd. Tr. 104-105.
  53. ^ Korea's Geography (Land, Territory.
  54. ^ Climate data in seoul, 1971 ~ 2000(tiếng Hàn), Korea Meteorological Administration.
  55. ^ “Moon Jae-in tuyên bố thắng cử tổng thống Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  56. ^ “Tân tổng thống Hàn Quốc - con của gia đình tị nạn Triều Tiên”. https://vnexpress.net/. 
  57. ^ “South Korea's Armed Forces, CSIS (Page 24)” (PDF). ngày 25 tháng 7 năm 2006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  58. ^ GlobalSecurity on Military of Republic of Korea, Globalsecurity.org
  59. ^ “Conscription 'Should Be Phased Out Slowly'. Chosun Ilbo. 6 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017. 
  60. ^ http://www.globalresearch.ca/south-koreas-armed-forces-to-remain-fully-under-us-military-command/5410849
  61. ^ “Tyranny of the Weak”. Google Books. Truy cập 11 tháng 8 năm 2016. 
  62. ^ DFRK Exposes True Colors of U.S.-S. Korea Alliance
  63. ^ https://www.kinu.or.kr/main/kinu
  64. ^ 2014 World Service Poll Lưu trữ 2015-03-05 tại Wayback Machine. BBC
  65. ^ “South Korea Country Profile”. MIT. 10 tháng 3 năm 2018. 
  66. ^ https://news.zing.vn/bong-ma-thuc-dan-nhat-ban-va-su-chia-re-100-nam-chua-nguoi-o-han-quoc-post923600.html
  67. ^ The official Dokdo site by Ministry of Foreign Affairs of Republic of Korea The official video and a few promotional materials in many languages
  68. ^ The official Dokdo site by Gyeonsangbuk-do Province of Republic of Korea Official videos and a few more promotional materials in many languages.
  69. ^ Dokdo in the East Sea Detailed consideration, old maps and other resources on Dokdo Historical Issues by Northeast Asian History Foundation, in 4 languages
  70. ^ The Issue of Takeshima The Ministry of Foreign Affairs of Japan
  71. ^ “Hàn Quốc cảnh báo Nhật Bản không hạn chế xuất khẩu công nghệ cao”. https://vnexpress.net/. 
  72. ^ “Hàn Quốc ngừng chia sẻ tin tình báo với Nhật”. https://vnexpress.net/. 
  73. ^ “Các hãng công nghệ có thể rơi vào cuộc chiến thương mại mới”. https://vnexpress.net/. 
  74. ^ “Căng thẳng thương mại Nhật – Hàn ngày càng trầm trọng”. https://vnexpress.net/. 
  75. ^ “Mâu thuẫn Nhật - Hàn đe dọa nguồn cung chip nhớ toàn cầu”. https://vnexpress.net/. 
  76. ^ “Xung đột Nhật - Hàn có thể đẩy giá smartphone lên cao”. https://vnexpress.net/. 
  77. ^ “韓国政府による日本文化開放政策(概要)” [Chính sách mở văn hóa đại chúng Nhật Bản của chính phủ Hàn Quốc (bản thảo)]. Đại sứ quán Nhật Bản tại Hàn Quốc (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 12 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  78. ^ “<芸能>韓国アイドルの新曲 日本語使用で「放送不適合」” [<Giải trí> Bài hát mới của thần tượng Hàn Quốc 'không phù hợp phát sóng' vì sử dụng tiếng Nhật]. Yonhap (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  79. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :1
  80. ^ "Background Briefing with a Senior Administration Official on National Security Advisor Susan Rice's Visit to China July 26, 2016." Beijing/China. Embassy of the United States, n.d. Web.
  81. ^ “Lotte của Hàn Quốc đành rút khỏi Trung Quốc”. https://www.bbc.com/vietnamese. 15 tháng 9 năm 2017. 
  82. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên SCMP20170405
  83. ^ Mullen, Jethro; Han, Sol (7 tháng 3 năm 2017). “One company is bearing the brunt of China's anger over U.S. missile system”. CNN Money. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017. 
  84. ^ Hernandez, Javier; Guo, Owen; McMorrow, Ryan (9 tháng 3 năm 2017). “South Korean Stores Feel China's Wrath as U.S. Missile System Is Deployed”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017. 
  85. ^ Tisdall, Simon. "Wikileaks Cables Reveal China 'ready to Abandon North Korea'" The Guardian, 29 Nov. 2010. Web. 7 Dec. 2010. <https://www.theguardian.com/world/2010/nov/29/wikileaks-cables-china-reunified-korea>
  86. ^ “People around the globe are divided in their opinions of China”. Pew Research Center. 30 tháng 9 năm 2019. 
  87. ^ https://vnreview.vn/tin-tuc-thi-truong/-/view_content/content/2771358/samsung-dong-gop-toi-28-tong-gdp-cua-viet-nam-nam-2018
  88. ^ President Obama Vows Strengthened U.S.-South Korea Ties Lưu trữ 2009-07-04 tại Wayback Machine. 2 Apr 2009. Embassy of the United States, Seoul
  89. ^ a ă “Major Indicators of Korea”. Korean Statistical Information Service. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016. 
  90. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Kostat2016
  91. ^ “South Korea”. CIA Country Studies. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2006. 
  92. ^ Populations for all cities tính đến năm 2005, “Summary of Census Population (by administrative district/sex/age)”. NSO Database. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009. 
  93. ^ “Masayoshi Son”. https://www.forbes.com/#22048b922254. 
  94. ^ “Meet Masayoshi Son, the billionaire founder of SoftBank and one of the richest men in Japan, who has a $16.3 billion fortune and owns a $117.5 million Silicon Valley estate”. Business Insider India. 
  95. ^ 'Bill Gates' Nhật Bản thành người giàu nhất nước”. https://vnexpress.net/. 
  96. ^ “Masayoshi Son - nhà đầu tư quyền lực nhất giới công nghệ”. https://vnexpress.net/. 
  97. ^ “Em trai tỷ phú SoftBank 'đổ' tiền vào startup Đông Nam Á”. https://vnexpress.net/. 
  98. ^ “Em trai tỷ phú SoftBank 'đổ' tiền vào startup Đông Nam Á”. https://startup.vnexpress.net/. 
  99. ^ “Chủ tịch World Bank từ chức”. https://vnexpress.net/. 
  100. ^ 'The Interview's' Kim Jong Un actor, Randall Park, knew it was 'insane'. https://www.latimes.com/. 
  101. ^ “Quan chức dạn dày kinh nghiệm phụ trách cứu vãn cuộc gặp Trump-Kim”. https://vnexpress.net/. 
  102. ^ “Nam tài tử John Cho gây ấn tượng mạnh mẽ khi tái xuất trong Searching - Truy tìm tung tích ảo”. http://gamek.vn/. 
  103. ^ “JOHN CHO”. https://www.rottentomatoes.com/. 
  104. ^ “Người cha trong 'Searching' từng bị phân biệt chủng tộc tại Hollywood”. https://news.zing.vn/. 
  105. ^ “Columbus review – a beguiling film about feelings and buildings”. https://www.theguardian.com/international. 
  106. ^ “Columbus review – the beauty of brutalism”. https://www.theguardian.com/international. 
  107. ^ “COLUMBUS”. https://www.rottentomatoes.com/. 
  108. ^ “COLUMBUS”. https://www.rogerebert.com/. 
  109. ^ “The Precocious Genius of “Columbus””. https://www.newyorker.com/. 
  110. ^ “Review: Modernism’s Promise and an Auspicious Feature Debut in ‘Columbus’”. https://www.nytimes.com/. 
  111. ^ “Film Review: ‘Columbus’”. https://variety.com/. 
  112. ^ Kim Rahn (22 tháng 5 năm 2009). “South Korea's birthrate world's lowest”. The Korea Times (Seoul). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010. 
  113. ^ “South Korea: Lowest Birthrate in the World”. LifeSiteNews. 28 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010. 
  114. ^ “South Korea”. CIA World Factbook. 26 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  115. ^ “Hàn Quốc đau đầu trước xu hướng phụ nữ quay lưng với hôn nhân”. https://vnexpress.net/. 
  116. ^ "Childbirths in S. Korea grow 5.7 pct in 2010" Lưu trữ May 26, 2012, tại Wayback Machine.. Yonhap News Agency. August 24, 2011.
  117. ^ "Korea's Total Fertility Rate Still Near the Bottom of the World" Lưu trữ November 19, 2011, tại Wayback Machine.. The Chosun Ilbo. November 17, 2011.
  118. ^ “The World Factbook”. CIA. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013. 
  119. ^ Life expectancy at birth, total (years) |Data |Table. Data.worldbank.org. Retrieved June 20, 2016.
  120. ^ Leipziger, Danny (6 tháng 2 năm 2014). “South Korea's Japanese Mirror”. The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  121. ^ “Thanh niên Hàn Quốc ngại hẹn hò, sợ kết hôn, không sinh con”. https://vnexpress.net/. 
  122. ^ “Hàn Quốc đối mặt tỷ lệ sinh thấp kỷ lục”. https://vnexpress.net/. 
  123. ^ “Cuộc chiến tìm việc gian nan của thanh niên Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  124. ^ “Làn sóng người trẻ Hàn Quốc muốn rời khỏi đất nước”. https://vnexpress.net/. 
  125. ^ “Cuộc sống như địa ngục của nhiều thanh niên Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  126. ^ “Người Hàn Quốc quay cuồng trong áp lực làm thêm giờ”. https://vnexpress.net/. 
  127. ^ “Japan's suicide rate exceeds world average: WHO report The Japan Times”. The Japan Times. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015. 
  128. ^ “Log In”. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015. 
  129. ^ “North Korea's suicide rate among worst in world, says WHO report”. the Guardian. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015. 
  130. ^ “Người già Hàn Quốc còng lưng giao hàng sống qua ngày”. https://vnexpress.net/. 
  131. ^ “Những người già sống nghèo đói, chết cô quạnh ở Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  132. ^ “Làm việc đến khi chết - bi kịch của người già Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  133. ^ “Nỗi đau của gái mại dâm U80 ở Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  134. ^ “Những người không đủ tiền chết tử tế ở Hàn Quốc - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 15 tháng 11 năm 2015. 
  135. ^ Hàn Quốc sốc vì tự tử ở đại học quý tộc Đình Ngân, Vietnamnet, 24/05/2011, theo New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  136. ^ 5 vụ tự tử chấn động học viện danh tiếng Lơ Nguyễn (Tổng hợp từ Korea Herald/Asia News Network), Vietnamet, 11/04/2011. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  137. ^ Lại tự sát tập thể tại Hàn Quốc Thanh Niên, 13/05/2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2011.
  138. ^ a ă Khóa học chết thử ở Hàn Quốc VnExpress. 11/7/2011. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  139. ^ “Xem trước khi in: Tỉ lệ tự tử ở Hàn Quốc tăng gấp đôi trong vòng 5 năm”. Báo Điện tử Tiền Phong. Truy cập 1 tháng 2 năm 2016. 
  140. ^ http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/cuoc-song-do-day/lam-viec-toi-chet-o-han-quoc-3609259.html
  141. ^ “Làm việc tới chết ở Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  142. ^ “Nỗi đau sau 'làm việc tới chết' ở Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  143. ^ 'Thế hệ lạc lối' Hàn Quốc vật lộn tìm lối Thoth”. https://vnexpress.net/. 
  144. ^ 'Nền kinh tế độc thân' ở Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  145. ^ Hendin, Herbert, Shuiyuan Xiao, Xianyun Li, Tran Thanh Huong, Hong Wang, and Ulrich Hegerl. "Suicide Prevention in Asia: Future Directions." WHO. Accessed November 4, 2014. http://www.who.int/mental_health/resources/suicide_prevention_asia_chapter10.pdf
  146. ^ South Korea has the highest rate of deaths by suicide in the developed world — but a 2011 law helped decrease rates by 15% - Business Insider ngày 9 tháng 7 năm 2018
  147. ^ World Happiness Report 2019
  148. ^ Economic Growth Rates of Advanced Economies. International Monetary Fund. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010. 
  149. ^ “South Korea GDP grew revised 6.2pc in 2010”. Business Recorder (Karachi). Agence France-Presse. 30 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  150. ^ “Bí quyết vượt khủng hoảng của các tập đoàn Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  151. ^ “Tạo ra công ty 9 tỷ USD nhờ huỷ IPO phút chót”. https://vnexpress.net/. 
  152. ^ “South Korea charges 100 with corruption over nuclear scandal”. Truy cập 18 tháng 2 năm 2015. 
  153. ^ “Another Korean Nuclear Issue”. The Diplomat. 19 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  154. ^ Express bus terminal guide Lưu trữ September 23, 2010, tại Wayback Machine., Korea Express Bus Lines Association.
  155. ^ “Surging Seoul: Traffic at Incheon Airport is booming. But can South Korea’s Big Two airlines capitalize?”. Airline Weekly. 23 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  156. ^ “Company Info”. Korean Air. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  157. ^ Lee Eun-joo (July 2, 2010). "If you're looking for a ticket to Jeju, leave late". Joongang Daily (Seoul). Retrieved July 15, 2010.
  158. ^ “Double-digit Growth”. BusinessKorea. 
  159. ^ “International Religious Freedom Report 2008 - Korea, Republic of”. State.gov. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  160. ^ “The Korea Times:Islam takes root and blooms”. Islamawareness.net. Ngày 22 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  161. ^ “Kpop - công cụ tuyên truyền hòa bình của Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  162. ^ Kelley, Caitlin. “BTS's 'Boy With Luv' Smashes YouTube's Record For Most Views In 24 Hours”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2019. 
  163. ^ “K-Pop takes America: how South Korea's music machine is conquering the world”. The Verge. 18 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2017. 
  164. ^ Williamson, Lucy (15 tháng 6 năm 2011). “The dark side of South Korean pop music”. BBC News (bằng tiếng en-GB). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  165. ^ “K-POP World Festival (케이팝월드페스티벌)”. Visit Korea. Korean Tourism Organization. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017. 
  166. ^ Kim, Tae Young; Jin, Dal Young (2016). “Cultural Policy in the Korean Wave: An Analysis of Cultural Diplomacy Embedded in Presidential Speeches” (PDF). International Journal of Communication 10: 5514–5534. 
  167. ^ “Box Office: All Time”. Korean Film Council. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  168. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :9
  169. ^ Pomerantz, Dorothy (8 tháng 9 năm 2014). “What The Economics Of 'Snowpiercer' Say About The Future Of Film”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  170. ^ Kang Kim, Hye Won (11 tháng 1 năm 2018). “Could K-Film Ever Be As Popular As K-Pop In Asia?”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  171. ^ “Song Kang Ho - 'Quái vật phòng vé' của điện ảnh Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  172. ^ “Đạo diễn Hàn quỳ gối trao lại giải Cành Cọ Vàng cho nam chính”. https://vnexpress.net/. 
  173. ^ “Trận chiến giàu - nghèo trong phim Hàn 'Parasite'. https://vnexpress.net/. 
  174. ^ “Lý do phim Hàn Quốc 'Parasite' được tôn vinh ở Cannes”. https://vnexpress.net/. 
  175. ^ “Phim Hàn Quốc lần đầu giành giải Cành Cọ Vàng”. https://vnexpress.net/. 
  176. ^ “Đạo diễn Hàn giành Cành Cọ Vàng nhận 'mưa' lời khen ở quê nhà”. https://vnexpress.net/. 
  177. ^ OECD.org
  178. ^ “Quá trình vươn lên top đầu thế giới của nền giáo dục Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  179. ^ “Mặt tối của nền giáo dục Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  180. ^ “Làn sóng cử nhân thất nghiệp đổ xô ra nước ngoài của Hàn Quốc”. https://vnexpress.net/. 
  181. ^ “Những người trẻ Hàn Quốc đến Việt Nam theo 'tiếng gọi' K-Move”. https://vnexpress.net/. 
  182. ^ “S Korea faces problem of ‘over-education’ - FT.com”. Financial Times. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016. 
  183. ^ “Cultural Heritage, the source for Koreans' Strength and Dream”. Cha.go.kr. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  184. ^ Hawley, Samuel: The Imjin War. Japan's Sixteenth-Century Invasion of Korea and Attempt to Conquer China, The Royal Asiatic Society, Korea Branch, Seoul 2005, ISBN 89-954424-2-5, p.195f.
  185. ^ Turnbull, Stephen: Samurai Invasion. Japan’s Korean War 1592-98 (Luân Đôn, 2002), Cassell & Co ISBN 0-304-35948-3, p.244
  186. ^ Roh, Young-koo: "Yi Sun-shin, an Admiral Who Became a Myth", The Review of Korean Studies, Vol. 7, No. 3 (2004), p.13
  187. ^ Samsung number One in the World Lưu trữ January 15, 2013, tại Wayback Machine., International Data Corporation, January 29, 2010. Retrieved July 7, 2010.
  188. ^ "Koreans love their mobile phones", Joongang Daily, January 28, 2009. Retrieved July 7, 2010.
  189. ^ “Household Download Index”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  190. ^ “Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên cung cấp dịch vụ 5G”. https://vov.vn/. 
  191. ^ “Hàn Quốc ra mắt mạng 5G đầu tiên trên thế giới”. http://nguoilambao.vn/. 
  192. ^ “Hàn Quốc là nước đầu tiên triển khai mạng 5G toàn quốc”. https://vtv.vn/. 
  193. ^ “Hàn Quốc thương mại hóa mạng 5G đầu tiên trên thế giới”. https://www.techtimes.vn/. 
  194. ^ “Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thương mại hóa mạng 5G, vượt qua Mỹ và Trung Quốc”. http://genk.vn/. 
  195. ^ 'Vượt mặt' Mỹ-Trung, Hàn Quốc là nước đầu tiên triển khai mạng 5G toàn quốc”. https://baotintuc.vn/. 
  196. ^ “South Korea national football team”. https://en.wikipedia.org/wiki/Main_Page. 
  197. ^ “Đức thua Hàn Quốc và bị loại khỏi World Cup”. https://vnexpress.net/the-thao/worldcup-2018. Thứ tư, 27/6/2018, 20:22 (GMT+7).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  198. ^ “Korea Republic v Germany - 2018 FIFA World Cup Russia™ - Match 43”. https://www.youtube.com/?gl=vn. 27 tháng 6 năm 2018. 
  199. ^ KOIS (2003), pág. 632.
  200. ^ a ă â COI (2010). “Republic of Korea”. Olympic.org (bằng tiếng Anh). Truy cập 12 tháng 4 năm 2010. 
  201. ^ “Asian Games” (bằng tiếng Anh). Consejo Olímpico de Asia. Truy cập 16 tháng 11 năm 2010. 
  202. ^ FIFA (2010). “República de Corea: Clasificación Mundial/FIFA Coca Cola”. FIFA.com (bằng tiếng español). Truy cập 12 tháng 4 năm 2010. 
  203. ^ “Why Is StarCraft So Popular In Korea?”. Kotaku.com. 24 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 

Liên kết ngoài